40 năm, trọn ân tình với đồng đội


Ngày cập nhật: 04/08/2018 06:41:35

(QT) - Không quản ngại nắng mưa, gian khó, từ những ngày đầu hình thành nghĩa trang đến nay đã gần 40 năm, người cựu chiến binh từng trải qua 2 cuộc chiến tranh biên giới đã tình nguyện chăm sóc khu nghĩa trang liệt sĩ (NTLS) nơi vùng cát heo hút. Ông là Hồ Văn Thành (63 tuổi), ở thôn Đại An Khê, xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng.

 

Sự tận tụy của ông Thành với nghĩa trang, với liệt sĩ luôn được chính quyền địa phương, bà con trân trọng

 

“Ông Thành nghĩa trang”

 

Tôi tìm được nhà ông Thành ở khu vực xóm rú đúng lúc ông đang lững thững dắt chiếc xe đạp cà tàng đã gắn bó với ông từ thập niên 80 đến nay chuẩn bị ra NTLS xã Hải Thượng. Ông nói gọn: “Cứ đi theo bác, có gì ra nghĩa trang hai bác cháu trò chuyện luôn”. NTLS xã Hải Thượng nằm ở khu vực rú cát, xung quanh có nhiều cây lớn, bụi rậm nom khá tĩnh mịch pha lẫn chút thâm u. Cẩn thận đốt bó nhang thơm, ông thắp một lượt toàn bộ nghĩa trang, nói “để tạo chút hơi ấm cho liệt sĩ”. Ông kể, gia đình ông là gia đình cách mạng “nòi” nhiều thế hệ. An nghỉ trong khu nghĩa trang này có chị gái của ông là liệt sĩ Hồ Thị Hữu, sinh năm 1950, hy sinh năm 1972. “Chị đẹp gái lắm, ai cũng khen. Chị ấy là chiến sĩ thuộc Huyện đội Hải Lăng, hoạt động cách mạng sôi nổi, anh dũng và gan dạ. Trong một lần bị địch phục kích, chị hy sinh. Thời điểm đó chị ấy vẫn chưa kịp có một mối tình… Được trực tiếp chăm sóc các liệt sĩ an nghỉ tại đây cũng như chị ruột của mình, tôi thấy lòng rất thanh thản”, ông Thành bồi hồi. Ngoài liệt sĩ Hồ Thị Hữu, ông Thành cũng có 1 người chị ruột khác là bà Hồ Thị Sáu, là người có công cách mạng, bị nhiễm chất độc da cam hiện đang sống tại địa phương… Bản thân ông Thành từ năm 1977 đã lên đường nhập ngũ. Ông được biên chế vào Sư đoàn 304, Quân đoàn 12 trực tiếp chiến đấu ở chiến trường Campuchia cho đến năm 1979. Cũng trong năm này, ông cùng đơn vị được điều động ra chiến trường Tây Bắc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược, đến năm 1980 thì ông xuất ngũ. Ông bảo mình may mắn lắm, như “hạt gạo trên sàng”, bởi kinh qua 2 cuộc chiến tranh biên giới vẫn lành lặn trở về.

 

Về quê, cũng như bao người, ông cần mẫn chí thú làm ăn nuôi vợ con. Thời gian này, ông tự nguyện xin địa phương được làm bảo vệ khu NTLS xã Hải Thượng nằm phía trên tuyến QL1. Đến năm 1991, NTLS mới của xã Hải Thượng được xây dựng ở khu vực rú cát thôn Đại An Khê, toàn bộ liệt sĩ được di chuyển về đây. Điều may mắn là khu vực nghĩa trang lại khá gần nhà của ông Thành nên đỡ phần nào vất vả cho ông. “Nghĩa trang liệt sĩ xã hồi đầu mới xây dựng còn hoang sơ lắm. Mới chỉ có khu tượng đài nhỏ với các mộ liệt sĩ đắp bằng đất, tường rào, cổng đều chưa có nên việc bảo vệ, chăm sóc gặp rất nhiều vất vả”, ông Thành nhớ lại. Để chống trâu bò vào phá nghĩa trang, ngày ngày ông Thành cặm cụi chặt cây xương rồng gai về trồng bao quanh toàn bộ nghĩa trang. Sau đó, để tạo bóng mát cho nghĩa trang, ông cất công đi xin những cây bàng, phượng vỹ, hoa sứ… về tỉ mẩn trồng trong khuôn viên. Mùa gió Lào ràn rạt thổi, cứ đến chiều là ông lại ra vun lại những ngôi mộ đất bị cát bay cát lấp, quyết không để mộ phần mất dấu. “Vùng cát khô khốc, đi lại khó khăn nhưng hồi ấy ông ấy vẫn cặm cụi xách từng xô nước cách đó hàng trăm mét ngày ngày tưới cho cây có thể sống được. Chăm chút cả năm trời như thế cuối cùng cây mới phát triển lên xanh, hàng rào xương rồng cũng đủ sức bảo vệ khỏi trâu bò phá hoại”, bà Trần Thị Yến (60 tuổi), vợ ông Thành kể cho tôi nghe. Chuyện về ông Thành thầm lặng gắn bó, hết lòng với NTLS xã Hải Thượng thì không chỉ bà vợ của ông mà hầu như người dân địa phương nào cũng cảm phục và trân quý…

 

Con bò… “di sản”!

 

Đi dưới những tán cây bàng tỏa bóng uy nghi trong khu nghĩa trang, ông Thành thấy lòng mình nhẹ tênh pha lẫn những niềm vui khôn tả. Ông cho rằng, có lẽ cái duyên của cuộc đời ông đã gắn bó với nơi nghĩa trang heo hút và linh thiêng này. NTLS xã Hải Thượng là nơi an nghỉ của 4.147 liệt sĩ, trong đó có 150 liệt sĩ chưa biết tên tuổi. Các liệt sĩ chủ yếu có quê quán ở miền Bắc, trong đó các tỉnh Nghệ An, Hà Tỉnh là nhiều nhất. Những ngày lễ lớn của quê hương đất nước, ông đều dành nhiều ngày tự “ra quân” dọn dẹp, vệ sinh, nhổ cỏ, tỉa cây trong toàn bộ khuôn viên nghĩa trang. Còn thường thì mỗi tháng cứ đúng 4 ngày gồm mùng 1, ngày 14, 15, 30 âm lịch ông đều tự tay ra thắp nhang cho các anh hùng liệt sĩ. “Gần 40 năm nay tôi thành thật với lòng mình rằng gần như chưa bao giờ bỏ một ngày thắp nhang cho các anh. Những lúc kẹt việc quá thì tôi cũng luôn thu xếp để tự mình thắp nhang, còn bất khả kháng quá thì bà nhà tôi phụ giúp tôi làm việc đó. Tôi và vợ tôi đều luôn tâm niệm, không thể vì bất cứ lý do gì mà phải để nghĩa trang lạnh lẽo cả. Những năm gần đây công việc của tôi có đỡ hơn vì có các đoàn thể ở địa phương chung sức làm một số phần việc để chăm sóc nghĩa trang”, ông Thành giải bày.

 

Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông Hồ Văn Thành chưa bao giờ vắng mặt ở nghĩa trang

 

Ngoài công việc chăm sóc nghĩa trang, mỗi năm ông còn nhiệt tình cung cấp đầy đủ các thông tin liệt sĩ tại nghĩa trang cho các gia đình thân nhân liệt sĩ cần giúp đỡ. Mỗi năm ông cũng đón hàng chục đoàn khách, thân nhân liệt sĩ đến thăm viếng nghĩa trang. 40 năm gắn bó thầm lặng trên tinh thần tự nguyện, ông không hề nặng chuyện lương bổng, thù lao. Chỉ cách đây vài năm, ông mới bắt đầu nhận được mỗi tháng khoản tiền 250 nghìn đồng do xã chi trả về công tác chăm sóc nghĩa trang. Còn về trước ông cũng lần lượt được “nâng mức lương” từ 50, 70, 90.000 đồng/tháng gọi là động viên từ phía địa phương. “Tôi không nặng nề chuyện thù lao gì cả. Quyết định gắn đời mình với công việc này tôi đã luôn tự nhủ lòng là làm bằng cái tâm, cái tình với đồng chí, đồng đội. Ngoài ra, vợ con luôn ủng hộ công việc cũng là động lực để tôi dồn hết tâm sức với nghĩa trang, với các anh hùng liệt sĩ nơi này”, ông Thành giải bày. Ngoài công việc của một người quản trang tận tụy, cũng như bao người nông dân ở địa phương, ông Thành cũng ra sức phụ giúp vợ cật lực làm lụng đến 9 sào ruộng, 5 sào hoa màu và chăn nuôi thêm lợn gà để nuôi con ăn học. Miệt mài, cần mẫn với “việc chung, việc riêng”, hai ông bà vẫn lần lửa nuôi 3 người con ăn học trưởng thành và đến nay đều đã có công việc ổn định…

 

Ít ai biết rằng, cách đây 13 năm (năm 2005), biết và cảm thông trước hoàn cảnh khó khăn cũng như tấm lòng của ông bà, một nhà chùa ở Hà Nội phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Quảng Trị đã trân trọng tặng ông bà một con bò giống để tạo sinh kế vượt qua khó khăn. “Thú thật là cũng nhờ con bò mau mắn sinh đẻ ấy cứ sòn sòn mỗi năm cho ra đời 1 con bê con mà suốt hơn chục năm qua gia đình chúng tôi cũng đỡ vất vả rất nhiều và có thêm khoản tiền để nuôi con cái vượt qua những năm tháng học hành gian khó. Mà đến nay hậu duệ của con bò năm đó vẫn còn sau chuồng, con bò này vừa sinh thêm một con bê con. Thế hệ bò sau này đều đã được lai tạo nên to lớn hơn trước nhiều”, bà Yến khoe. “Chúng tôi trân trọng con bò được tặng từ thời còn cơ cực và luôn xem đó như một thứ tài sản, “di sản” quý giá, là tình cảm của mọi người dành cho mình nên quyết định duy trì nuôi sinh sản cho đến tận bây giờ” ông Thành tiếp lời vợ. Chia tay với người quản trang tận tụy Hồ Văn Thành và người vợ chịu thương chịu khó Trần Thị Yến, tôi cảm thấy cảm phục. Tôi cũng tin rằng chính sự hồn hậu, bình dị của họ dành cả phần đời gắn với công việc thầm lặng nơi chốn linh thiêng mà chẳng màng đến danh lợi, công lao thật sự đáng trân quý biết bao giữa cuộc đời này…

 

Lê Đức Việt

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ