Tấm lòng người mẹ


Ngày cập nhật: 03/08/2018 08:13:33

(QT) - Còn nhớ vào năm 2004, tôi đã một lần về thôn Phú Hưng, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, thăm mẹ Trần Thị Mít. Năm ấy mẹ tròn 103 tuổi và đã rất yếu. Một năm sau tôi được tin mẹ mất. Mười ba năm kể từ ngày ấy, hôm nay tôi mới có dịp trở lại quê mẹ. Vẫn căn nhà nho nhỏ ấy, vẫn mảnh vườn cây lá sum suê ấy, chỉ thiếu vắng hình bóng mẹ. Mẹ Mít không còn, căn nhà trở nên trống trải. Tôi cùng người cháu nội của mẹ là anh Nguyễn Thanh Đình ra thăm mộ mẹ. Giữa rừng cây mênh mông, bạt ngàn, mẹ thanh thản nằm đó. Đầu mẹ gối lên đỉnh đồi, hướng về phía làng...

 

Ngôi nhà của mẹ Mít ở xã Hải Phú

 

Mẹ Trần Thị Mít không còn, nhưng những gì mẹ đã đóng góp cho quê hương, đất nước trong những năm kháng chiến thì không ai là không biết. Bởi, mẹ là Bà mẹ Việt Nam anh hùng có tới 9 thân nhân liệt sĩ, là Bà mẹ Việt Nam anh hùng có nhiều thân nhân liệt sĩ nhất ở Quảng Trị. Tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở Thủ đô Hà Nội, mẹ còn được ghi danh là 1 trong 10 Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu nhất của cả nước bởi những đóng góp của bản thân và sự hy sinh to lớn của những người ruột thịt thân yêu của mẹ.

 

Cuộc đời mẹ là cả một chuỗi dài gian khổ nuôi con và tham gia hoạt động cách mạng. Nhưng cũng chính từ trong cảnh đói khổ, cơ hàn của những năm kháng chiến chống Pháp, các con mẹ đã lớn lên. Trong cảnh nước mất nhà tan, nhìn đàn con khôn lớn, mẹ đâu dám ước gì khác, chỉ mong sao cho các con mẹ sau này không có đứa nào làm gì phải hổ thẹn với lương tâm. Ngược lại, phải làm việc có ích cho phong trào, đoàn thể. Đó là con đường cách mạng, con đường đánh đuổi thực dân, phong kiến, giải phóng đất nước. Chồng mẹ, ông Nguyễn Năng Hải, một đảng viên kỳ cựu những năm 45, 46, được tổ chức phân công làm Trưởng Ban giao liên huyện Hải Lăng, một công việc đầy khó khăn và không kém phần nguy hiểm. Ông còn là hội viên Cứu tế Đỏ, một tổ chức bí mật do Đảng lãnh đạo. Con trai lớn của mẹ, anh Nguyễn Năng Phàn làm cán bộ tuyên truyền xã, thực dân Pháp cho là “phần tử” nguy hiểm, nên lúc nào cũng bị chúng truy nã gắt gao. Còn mẹ, mẹ cũng một mình đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ ngay trong vườn chuối nhà mình.

 

Lúc này, cuộc kháng chiến chống Pháp ở chiến trường Trị - Thiên đang ở vào giai đoạn cam go, ác liệt nhất. Thực dân Pháp một mặt mở các cuộc tấn công vào căn cứ kháng chiến, một mặt lùng sục tìm bắt cán bộ Việt Minh, gây cho ta nhiều tổn thất nặng nề. Nhưng quân và dân ta không vì thế mà lung lay ý chí chiến đấu. Một ngày vào giữa năm 1948, mẹ Mít nhận được tin dữ: bọn Pháp trong một đêm mai phục đã bắt được con trai mẹ, anh Nguyễn Năng Phàn. Chúng đưa con mẹ vào Hải Lăng tra tấn, sau đó cho chặt đầu, cắm cọc phơi ở chợ Diên Sanh để uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân. Nỗi đau chưa kịp nguôi ngoai thì liền đó mẹ nghe tin chồng mẹ đã hy sinh trong một trận vây ráp của kẻ thù khi ông đang trên đường công tác. Mất chồng và đứa con đầu lòng, mẹ thắt ruột thắt gan, nhưng không vì thế mà mẹ nản lòng, chùn bước. Mẹ tiếp tục nuôi giấu cán bộ, động viên các con vào bộ đội, du kích... cùng dân làng chiến đấu cho đến ngày kháng chiến thắng lợi.

 

Trong kháng chiến chống Mỹ, xã Hải Phú quê mẹ là địa bàn quan trọng, nơi kẻ thù đã tập trung ở đây một lực lượng khá đông những đơn vị tinh nhuệ nhất của chúng. Ngoài một đơn vị lính Mỹ lên đến cả ngàn tên đóng quân tại căn cứ La Vang thì Hải Phú còn là nơi đặt “đại bản doanh” của Sư đoàn 1 bộ binh và Trung đoàn 54, từng được mệnh danh là trung đoàn “trâu điên” của quân đội ngụy. Đó là chưa kể đến những sắc lính khác như bảo an, dân vệ... mà quân số có thể lên đến hàng đại đội, tiểu đoàn. Vì vậy, trong suốt hai mươi năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hải Phú là một trong những vùng quê bị bom đạn kẻ thù tàn phá nặng nề nhất.

 

Đáp lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, lại một lần nữa mẹ động viên các con, các cháu của mẹ ra trận. Bảy người con trai, con gái, con dâu, cháu nội của mẹ lần lượt, người trước người sau vào bộ đội, du kích, tỏa đi các chiến trường Quảng Trị. Mỗi lần tiễn các con lên đường ra trận, là mỗi lần mẹ thắp hương trước bàn thờ tổ tiên và người đã khuất, cầu xin cho con mẹ được bình yên trở về. Nhưng chiến tranh đã không chiều theo ý mẹ.

 

Nơi yên nghỉ của mẹ Mít

 

Anh Nguyễn Năng Dể vào bộ đội, trực tiếp chiến đấu ngay tại quê hương. Anh có mặt trong trận Phường Sắn xảy ra ngày 5 và 6 tháng 7 năm 1964, một trận đánh mà sau này được đánh giá là trận đánh mở màn cho phong trào đồng khởi ở chiến trường Hải Lăng. Trong trận này, Nguyễn Năng Dể cùng 7 chiến sĩ trong một tiểu đội đã chiến đấu với cả tiểu đoàn địch, có xe tăng yểm trợ và tất cả cùng hy sinh sau khi đã làm tan rã đội hình địch, diệt và làm bị thương hơn 40 tên. (Tiểu đội 7 còn gọi là Tiểu đội Phường Sắn, thuộc Trung đội 3, Đại đội 2, Đoàn 800, lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị sau này đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân). Anh Nguyễn Năng Để cũng tiếp bước anh trai vào bộ đội huyện, rồi cũng hy sinh vào một ngày cuối năm 1964. Chỉ trong một năm, mẹ Trần Thị Mít đã phải hai lần chít vành khăn trắng trên đầu. Với người mẹ, không có nỗi đau nào bằng nỗi đau mất con. Nhưng mẹ đã vượt qua bằng chính sức mạnh của mình. Mẹ biết xem nỗi đau riêng của bản thân nằm trong nỗi đau chung của dân tộc. Nỗi đau riêng của bản thân dù xa xót đến đâu cũng không bằng nỗi đau mất nước. Khi đất nước, quê hương còn bóng quân xâm lược thì cảnh mất mát, thương đau vẫn còn đó trong mỗi gia đình. Căm thù giặc, mẹ tiếp tục động viên các con lên đường.

 

Năm 1968, gần như cùng một lúc mẹ nhận được tin 4 người con của mẹ hy sinh. Đó là anh Nguyễn Năng Kế, Xã đội trưởng xã Hải Phú; chị Nguyễn Thị Tiếp, đội viên du kích xã Hải Phú; anh Nguyễn Năng Tút, nhân viên Phòng Thông tin thị xã Quảng Trị và người con dâu là chị Phạm Thị Tiết, cán bộ Kinh - Tài huyện Hải Lăng. Tất cả cùng hy sinh trong năm 1968. Rồi đến năm 1972, đứa cháu nội của mẹ là anh Nguyễn Năng Thành, bộ đội huyện Hải Lăng cũng hy sinh tại Thành Cổ Quảng Trị trong chiến dịch 81 ngày đêm.

 

Nỗi đau chồng lên nỗi đau. Ngày nhận được tin 4 người con hy sinh, mẹ đã lặng người đi vì choáng váng. Vành khăn tang mẹ chít trên đầu chưa kịp ngả màu thời gian đã lại chồng lên vành khăn mới. Bốn người con hy sinh cùng một năm. Mẹ như đứt từng khúc ruột. Đau thương lần ấy quá sức chịu đựng của mẹ. Mẹ bỏ ăn mấy ngày liền, nằm một chỗ. Mẹ những tưởng mình sẽ không còn sức lực để gượng dậy được nữa. Nước mắt mẹ khóc con cũng gần như khô cạn. Mẹ như người mất hồn, chỉ mấy ngày trôi qua mà mẹ trở nên tiều tụy, già hẳn đi. Mái tóc mẹ bạc trắng qua từng đêm thao thức vì nhớ thương con. Có đêm, không ngủ được, mẹ nức nở gọi: “Dể ơi! Để ơi! Tiếp ơi!... Các con ơi! Các con đi mô mà không về với mạ?”. Rồi lại: “Răng các con lại bỏ mạ mà đi, không cho mạ đi cùng?”... Sau tiếng gọi con là mẹ lại khóc. Tiếng khóc của mẹ khản đặc lại.

 

Rồi mẹ mường tượng khuôn mặt của từng đứa con và như thấy các con mẹ, từng đứa... từng đứa... hiện ra trước mặt mình. Trong tất cả những đứa con của mẹ, đứa nào mẹ cũng thương cũng nhớ, dù nó là con trai, con gái, hay con dâu. Nhưng mẹ thương vợ chồng thằng Dể, con Tiết nhất. Hai anh chị tham gia du kích rồi thương nhau, thành vợ thành chồng, sau đó mỗi người một phương, cùng đồng đội đánh giặc. Nay, vì đất nước, quê hương, vợ chồng anh chị đều hy sinh, để lại hai đứa con còn quá nhỏ. Thương con, mẹ lại nghĩ tới cháu. Hai đứa cháu nội của mẹ mới tý tuổi đầu đã sớm mồ côi. Rồi đây ai sẽ gần gũi, thương yêu chúng, ai sẽ chăm sóc, dạy dỗ chúng nên người nếu người đó không thể ai khác ngoài mẹ? Nghĩ thế và mẹ thấy mẹ cần phải vững vàng lên trước sóng gió cuộc đời, khi mà chiến tranh trên đất nước, quê hương này còn chưa kết thúc. Các con, các cháu mẹ rất cần một chỗ dựa cho chúng trên mọi đường đi nước bước. Và mẹ cũng thấy rằng, không có chỗ dựa nào cho con, cho cháu mẹ vững vàng hơn, tin cậy hơn bằng chính tấm lòng của mẹ...

 

Mấy chục năm trôi qua kể từ những ngày chiến tranh đầy đau thương, tang tóc ấy. Giờ mẹ cũng đã thành người thiên cổ. Mẹ nằm đó, dưới lòng đất quê hương. Bên cạnh mẹ là chồng mẹ, các con, các cháu mẹ - những người ruột thịt thân yêu nhất của mẹ, những người đã không tiếc máu xương mình hy sinh vì Tổ Quốc. Sau mấy mươi năm âm - dương cách trở, giờ mẹ lại được về bên người thân của mình. Trong khói hương nghi ngút, tôi như thấy mẹ đứng đó, lồng lộng giữa trời cao, vẫy theo đoàn quân ra trận. Mấy chục năm về trước, mẹ cũng đứng và vẫy như thế, khi tiễn các con mẹ lên đường đánh giặc. Chỉ có điều các con mẹ ra đi rồi không thấy trở về.

 

Nguyễn Ngọc Chiến

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ