Thua kiện vì một chữ "nhờ"!


Ngày cập nhật: 02/09/2019 06:05:39

(QT) - Vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn ông N.T.Đ. (cùng bà N.T.M) và bị đơn bà T.T.N.M. (đều trú tại Khu phố 6, Phường 1, thành phố Đông Hà) bắt đầu từ tháng 10/2014 đến nay đã qua 4 phiên tòa xét xử. Nội dung tóm lược vụ án như sau.

 

Theo đơn khởi kiện của ông Đ. thì trong thời gian từ ngày 27/10/2008 đến 27/5/2010, bà M. đã nhiều lần vay tiền của vợ chồng ông Đ.; mỗi lần vay đều có viết giấy vay tiền. Sau nhiều lần vay nhưng không trả nợ đúng hạn, các khoản vay chưa được đối chiếu chốt nợ nên ngày 27/6/2010, hai bên thống nhất xác nhận tổng số tiền bà M. đã vay phải trả cho ông Đ. là 1,11 tỉ đồng. Do nguồn gốc tiền cho bà M. vay là ông Đ. huy động của bà con, người thân, anh chị em trong gia đình để vay giúp cho bà M., vì thế để bà M. hiểu và sớm trả nợ nên trong giấy vay ngày 27/6/2010 có tiêu đề “Giấy xác nhận nhờ vay tiền”, nhằm xác nhận số tiền đã vay và thống nhất lại ngày vay là ngày 27/6/2010 để tiếp tục tính lãi. Số tiền gốc trên phải trả đầy đủ chậm nhất là ngày 30/8/2010. Ông Đ. khai số tiền này là gộp của 12 giấy vay tiền trước đó, nhưng sau khi viết lại giấy vay ngày 27/6/2010 thì hai bên thống nhất hủy 11 giấy vay, chỉ giữ lại 1 giấy vay ngày 27/10/2008 (vay 100 triệu đồng, đã trả 50 triệu đồng). Ngày 3/9/2014, bà M. trả nợ cho ông Đ. 250 triệu đồng, số còn lại xin xóa nợ vì quá khó khăn nhưng ông Đ. không chấp nhận nên khởi kiện yêu cầu bà M. trả nợ cả gốc lẫn lãi là 1,6695 tỉ đồng.

 

Về phía bị đơn, người đại diện hợp pháp cho rằng bà M. không vay tiền của ông Đ. theo “Giấy xác nhận nhờ vay tiền” nói trên, nếu có vay thì phải có “giấy vay tiền”. Việc trả nợ 250 triệu đồng (nếu có) là của khoản nợ vay khác, không liên quan đến “Giấy xác nhận nhờ vay tiền” lập ngày 27/6/2010. Vì giữa bà M. và ông Đ. có sự vay mượn tiền với nhau nên bị đơn không xác định được khoản vay nào, nếu ông Đ. xuất trình được giấy vay tiền nào thì khởi kiện giấy vay tiền đó. Ở đây chỉ là giấy xác nhận “nhờ” vay tiền, không phải giấy xác nhận “đã” vay tiền. Vậy nên bị đơn phản bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

 

Theo lập luận của nguyên đơn thì “xác nhận” tức là công nhận sự việc đã xảy ra trước đó; có mối quan hệ vay mượn tiền nên mới có thỏa thuận thời hạn tính lãi từ ngày vay là ngày 27/6/2010, cùng thời điểm viết giấy xác nhận vay tiền và ấn định thời gian trả nợ gốc là ngày 30/8/2010; bà M. đã trả 250 triệu đồng và xin xóa nợ số tiền còn lại; hơn nữa trên thực tế, việc nhờ vay tiền mà bắt buộc phải viết “Giấy xác nhận nhờ vay tiền” để làm gì?. Xâu chuỗi những chi tiết đó cho thấy bà M. có nhận tiền của ông Đ. như “Giấy xác nhận nhờ vay tiền”.

 

Quá trình giải quyết vụ án, xét xử sơ thẩm (lần 1) và phúc thẩm (lần 1), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đều tuyên ông Đ. thắng kiện. Tuy nhiên, bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm. Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại theo đúng quy định pháp luật. Xét xử sơ thẩm (lần 2), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà đã thay đổi quyết định, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ. về việc buộc bà M. phải trả số tiền 1,6695 tỉ đồng. Ông Đ. kháng cáo bản án sơ thẩm. Xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị bác yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà M. trả nợ tiền gốc và lãi theo “Giấy xác nhận nhờ vay tiền” lập ngày 27/6/2010 (chỉ chấp nhận giấy vay ngày 27/10/2008 số tiền 100 triệu đồng, đã trả 50 triệu đồng).

 

Xem xét kĩ tài liệu vụ án gồm văn bản, file ghi âm, ghi hình các cuộc đối thoại giữa nguyên đơn với bị đơn, cho thấy ông Đ. thua kiện là vì lập giấy xác nhận “nhờ” vay tiền. Theo đó, nội dung các bên thỏa thuận: “Bà M. đến nhờ ông Đ. và bà M. (vợ ông Đ.) vay giúp số tiền 1,11 tỉ đồng để kinh doanh, buôn bán. Lãi thanh toán hàng tháng tính từ ngày vay là ngày 27/6/2010. Gốc trả trong vòng hai tháng khoảng đến chậm nhất là ngày 30/8/2010 sẽ thanh toán toàn bộ”. Theo nguyên đơn thì giấy xác nhận này là hai bên cùng thống nhất xác nhận tổng số tiền đã vay mà bà M. phải trả cho ông Đ. Tuy nhiên phân tích câu chữ cho thấy, trong “Giấy xác nhận nhờ vay tiền” không có nội dung thể hiện chốt nợ các khoản vay trước; không có nội dung chứng minh việc cho vay và nhận tiền vay vào các thời điểm cho vay trước. Đặc biệt quan trọng mang tính quyết định là dùng từ “nhờ” vay. Theo nghĩa của từ này thì hành vi nhận tiền vay tại thời điểm viết giấy chưa xảy ra. “Nhờ” vay khác với “đã” vay hoặc “có” vay. Ở đây chỉ mới “nhờ”, còn việc đã nhận tiền vay chưa được thể hiện.

 

Một số nội dung bổ sung như câu “Lãi thanh toán hàng tháng tính từ ngày vay là ngày 27/6/2010” cũng không thể hiện được đây là thời hạn tính lãi đối với các khoản nợ trước đây, hay ngày 27/6/210 là ngày bà M. nhận tiền từ ông Đ. để bắt đầu tính lãi, nên không có cơ sở khẳng định việc có thỏa thuận thời gian tính lãi là chứng minh việc bà M. có nhận tiền vay. Nội dung file ghi âm thể hiện bà M. xin trả 250 triệu đồng, còn lại xin xóa nợ, tuy nhiên không nói rõ là khoản nợ nào (có nằm trong số 1,11 tỉ đồng hay không); việc xin xóa nợ cũng không xác định được xóa nợ khoản nào và đã được xóa chưa. Trong file hội thoại ông Đ. hỏi bà M. còn nợ ông bao nhiêu tiền nhưng không nhận được câu trả lời, chỉ có lời ông Đ. tự nói còn nợ hơn 1 tỉ đồng nên không thể xem là chứng cứ. Để làm rõ vụ việc, theo đề nghị của nguyên đơn cho đối chất với bị đơn và được cả hai cấp tòa đồng ý nhưng bà M. đưa ra lí do ốm nặng không tham gia, trong khi đó pháp luật không bắt buộc đương sự phải đối chất nên tòa án không thực hiện được.

 

Lập luận của nguyên đơn xem ra phù hợp với cuộc sống đời thường. Lập luận của bị đơn thì căn cứ vào pháp luật. Quyết định của tòa án đương nhiên phải theo bên nào có cơ sở pháp lí vững chắc hơn. Thực hư của việc vay mượn này chỉ có những người trong cuộc mới biết, còn tòa án thì cứ theo luật mà phán quyết.

 

Nhân đây xin trao đổi thêm về việc vay mượn ngoài hệ thống tín dụng nhà nước cấp phép. Với ưu điểm lớn như thủ tục đơn giản, tiện lợi, giải quyết nhanh, hoạt động vay mượn tài sản giữa người dân với nhau rất phổ biến trong đời sống thường ngày (mức lãi suất không quá 20%/năm). Tuy nhiên, chính ưu điểm lại là nguồn cơn của những rắc rối sau này do thiếu chặt chẽ về pháp lí. Nhiều vụ việc lúc đầu hoàn toàn thiện chí, không có ý lường gạt, nhưng khi cuộc sống bế tắc, đường cùng nên nảy sinh việc trốn tránh trách nhiệm, đưa nhau ra tòa giải quyết, và đôi lúc “tình ngay, lí gian” nên thua kiện, uất ức. Còn với những người chuyên cho vay nặng lãi (tín dụng đen), họ thường nắm vững pháp luật, nên khi có tranh chấp pháp lí người đi vay thường là bên thua thiệt, lâm cảnh khốn cùng.

 

Qua vụ án trên cũng như nhiều vụ án tương tự cho thấy, sự rủi ro pháp lí trong vay mượn tài sản ngoài hệ thống tín dụng nhà nước cấp phép xảy ra khá nhiều. Vậy nên mọi người phải hết sức chú ý, chặt chẽ, rõ ràng trong câu chữ, nội dung diễn đạt chính xác với bản chất sự việc, phòng khi không may phải “đáo tụng đình”.

 

Tùng Lâm

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ