Giải pháp để xây dựng tỉnh Quảng Trị mạnh về kinh tế biển


Ngày cập nhật: 22/04/2019 05:59:45

(QT) - “Phấn đấu đưa Quảng Trị trở thành địa phương mạnh về biển của vùng Bắc Trung bộ; đạt cơ bản các tiêu chí quốc gia về phát triển bền vững kinh tế biển; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa biển và hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển, biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng trên địa bàn tỉnh. Ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại trong phát triển bền vững kinh tế biển của tỉnh” - Đó là mục tiêu tổng quát đến năm 2030 được đề ra trong Chương trình hành động của Tỉnh ủy Quảng Trị thực Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được thông qua tại Hội nghị lần thứ 20 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI.

 

Tỉnh Quảng Trị có đường bờ biển dài 75 km, ngư trường rộng, trữ lượng hải sản khá lớn, phong phú và có giá trị; có những cửa sông, địa điểm có thể xây dựng cảng biển; nhiều bãi biển đẹp với những cảnh quan, khu bảo tồn thiên nhiên hấp dẫn, là điều kiện để phát triển du lịch; một số loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao như khí tự nhiên, ti tan, cát thủy tinh...; vùng ven biển có tiềm năng để phát triển năng lượng như điện khí, điện mặt trời... Những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 9/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết, chương trình hành động của Tỉnh ủy, công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, phát triển kinh tế biển đạt được một số kết quả quan trọng, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của tỉnh.

 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lí, bảo vệ, khai thác, phát triển kinh tế biển vẫn còn một số hạn chế. Đời sống của nhân dân, nhất là vùng bãi ngang còn nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn cao. Công tác quy hoạch, triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực, địa phương liên quan đến biển còn thiếu tính tổng thể, liên kết. Hạ tầng kĩ thuật tuy đã được đầu tư nhưng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế vùng biển, đảo. Nguồn nhân lực biển còn hạn chế; công tác đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho người dân vùng ven biển chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển kinh tế biển, nghiên cứu khoa học, bảo vệ tài nguyên môi trường biển vẫn còn hạn chế...

 

Quan điểm chỉ đạo của tỉnh là xây dựng Quảng Trị trở thành tỉnh mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác quốc tế về biển, duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, các chỉ tiêu về quản lí biển, hải đảo và vùng bờ theo chuẩn mực quốc gia đạt mức thuộc nhóm địa phương trung bình cao của cả nước trở lên. Tầm nhìn đến 2045, phấn đấu xây dựng Quảng Trị trở thành tỉnh có nền kinh tế biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế của tỉnh. Để kinh tế biển phát triển mạnh mẽ trong những năm tới, cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

 

Các cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội tăng cường lãnh đạo trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển kinh tế biển. Tập trung hoàn thiện các cơ chế, chính sách; thực hiện rà soát, bổ sung các chính sách của tỉnh về biển, đảo theo hướng phát triển bền vững, bảo đảm tính khả thi. Tạo điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ, nguồn nhân lực và chuyển giao tri thức về biển.

 

Thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, đặc biệt là ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trong quản lí và phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, đảo của tỉnh. Lựa chọn một số khâu, một số lĩnh vực có thể đột phá, áp dụng những thành tựu của nền kinh tế tri thức và của cách mạng công nghiệp 4.0 để chuyển từ khai thác, chế biến, xuất khẩu thô sang chế biến sâu, tạo giá trị gia tăng và tiết kiệm tài nguyên biển; mở rộng khai thác các giá trị chức năng, giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái, ưu tiên phát triển kinh tế dựa vào bảo tồn theo hướng phát triển kinh tế biển xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

 

Phát triển văn hóa - xã hội vùng biển, đảo và ven biển. Chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu lao động của các ngành kinh tế biển và việc chuyển đổi nghề của ngư dân vùng biển. Củng cố và phát triển mạng lưới y tế vùng biển, đảo; tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất y tế cho công tác chăm sóc sức khỏe dân cư vùng biển, đảo; phát triển các thiết chế văn hóa cho cộng đồng dân cư vùng biển đảo; phát huy bản sắc, giá trị văn hóa dân tộc, tri thức ứng xử với biển.

 

Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biển đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai. Điều tra, đánh giá tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái vùng biển, hiện trạng môi trường ven biển. Nghiên cứu mở rộng diện tích khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch phân vùng chức năng môi trường của tỉnh. Kiểm soát nghiêm ngặt các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao ở khu vực biển, ven bờ và đảo theo tiêu chí, yêu cầu kĩ thuật quốc gia và quốc tế; bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời không để xảy ra các sự cố ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lí hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm.

 

Huy động nguồn lực các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển. Chủ động thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ, trình độ quản lí tiên tiến từ các nước phát triển. Ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển các xã vùng ven biển; xã hội hoá đầu tư kết cấu hạ tầng, giao thông biển, đảo, các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển. Tập trung xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng vùng biển, Khu Kinh tế Đông Nam Quảng Trị để tạo điều kiện kêu gọi thu hút đầu tư.

 

Bảo đảm quốc phòng, an ninh và mở rộng hợp tác quốc tế. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo. Xây dựng khu vực phòng thủ biên giới tuyến biển vững chắc; hoàn thành tốt các hoạt động diễn tập khu vực phòng thủ ven biển, diễn tập cứu hộ, cứu nạn, ứng phó sự cố môi trường biển; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, xã hội với đảm bảo quốc phòng an ninh.

 

Minh Phương

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ