Đào tạo nguồn nhân lực cho miền núi


Ngày cập nhật: 22/03/2019 06:18:49

(QT) - Vùng miền núi của tỉnh Quảng Trị có 47 xã, thị trấn, trong đó có 41 xã, thị trấn có đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống ở 2 huyện Hướng Hóa, Đakrông và 3 huyện có xã miền núi là Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ. Toàn vùng có 41.773 hộ và 176.700 khẩu (chiếm 24,66% dân số toàn tỉnh), trong đó đồng bào DTTS có 17.816 hộ và 87.629 khẩu với hai dân tộc chính là Vân Kiều, Pa Kô. Vùng miền núi cũng là nơi có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, giao thông đi lại cách trở, việc đào tạo nguồn nhân lực có những hạn chế so với các nơi khác. Tỉ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cấp xã chưa qua đào tạo chiếm tỉ lệ cao, điều đó ảnh hưởng đến sự phát triển của miền núi.

 

Nhận thức được việc đào tạo nguồn nhân lực cho miền núi có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tếxã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh của địa phương. Trong những năm qua Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm định hướng và hỗ trợ cho việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho miền núi. Trong đó Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XV ban hành Chỉ thị số 20/2013 “Về việc phát triển nguồn nhân lực cho miền núi và vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống” xác định: “Việc phát triển nguồn nhân lực miền núi và vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào một cách bền vững. Đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian, có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành và toàn xã hội. Ngoài nguồn lực đầu tư nhà nước cần kết hợp với đầu tư của cộng đồng, trong đó có yếu tố quan trọng là ý thức tự vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số”.

 

5 năm qua, thực hiện Chỉ thị 20 của Tỉnh ủy, công tác đào tạo nguồn nhân lực cho miền núi đã có những chuyển biến tích cực. Về đào tạo nghề: Nhiều đơn vị, địa phương đã chủ động phối hợp, triển khai hướng dẫn thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề; xây dựng kế hoạch, nội dung đào tạo nghề cho đồng bào DTTS; triển khai “Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn hằng năm”; lồng ghép thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo nghề dưới 3 tháng; triển khai thực hiện chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên cao đẳng, trung cấp theo Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp.

 

Nội dung đào tạo các nghề quan trọng đã gắn với đời sống đồng bào DTTS. Bên cạnh đó cũng đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về giải quyết việc làm cho lao động đồng bào DTTS trên địa bàn để tìm kiếm việc làm phù hợp tại địa phương, trong và ngoài nước. Qua khảo sát cho thấy 70-75% lao động sau khi học nghề phi nông nghiệp đã tìm kiếm được việc làm hoặc tự tạo việc làm có thu nhập ổn định. Nhiều mô hình như: May công nghiệp gắn đào tạo nghề với bố trí việc làm tại các công ty may trên địa bàn tỉnh đạt kết quả tốt; các mô hình trồng và chăm sóc cây tiêu, nuôi giun quế kết hợp với chăn nuôi gà, vịt, cá... đã được triển khai với quy mô ngày càng lớn. Đối với các lớp nghề nông nghiệp, hầu hết lao động sau khi được đào tạo đã biết áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào quá trình sản xuất. Có thể nói công tác đào tạo nghề ở miền núi và đào tạo nghề cho đồng bào DTTS đã và đang triển khai đúng hướng, góp phần quan trọng vào mục tiêu xây dựng nông thôn mới.

 

Về giáo dục phổ thông: Hệ thống trường phổ thông, trong đó có các trường dân tộc nội trú tiếp tục được củng cố, phát triển cả quy mô và chất lượng giáo dục. Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học tiếp tục được quan tâm đầu tư. Bằng nguồn ngân sách, kinh phí sự nghiệp; chương trình mục tiêu quốc gia và sự hỗ trợ của các chương trình, dự án, các tổ chức chính trị xã hội trong và ngoài nước đã đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng 1.025 công trình. Đến nay, 100% các xã, thị trấn trên địa bàn các huyện miền núi đều có trường học cao tầng tại các điểm trường chính, trong đó có 20 trường đạt chuẩn quốc gia. Nhiều chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên như luân chuyển, thuyên chuyển... được quan tâm thực hiện, giúp giáo viên yên tâm công tác. Việc hỗ trợ cho học sinh bán trú, hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; miễn, giảm học phí, chi phí học tập được triển khai kịp thời, đúng quy định đã góp phần giúp học sinh, nhất là học sinh nghèo, con em đồng bào DTTS có điều kiện học tập tốt hơn. Ngành Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, UBND các huyện tổ chức tốt “Ngày hội giao lưu tiếng Việt cho học sinh dân tộc”; “Ngày hội đọc sách” tạo môi trường giáo dục tích cực, thân thiện, tăng cường tiếng Việt, kĩ năng đọc hiểu cho học sinh DTTS. Việc dạy học tiếng Bru-Vân Kiều cho học sinh lớp 6 tại 5 trường trên địa bàn các huyện Hướng Hóa, Đakrông và cán bộ quản lí, giáo viên vùng DTTS theo chương trình và sách giáo khoa của Sở GD&ĐT mang lại hiệu quả rõ rệt. Nhiều vùng xa xôi đã có trường THPT, mỗi năm đào tạo hàng trăm học sinh tốt nghiệp THPT, bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng cho miền núi.

 

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kĩ năng làm việc cho cán bộ cấp xã vùng miền núi, đồng bào DTTS cũng được coi trọng. Nhiều cán bộ được cử đi học các lớp đào tạo văn hóa, bồi dưỡng lí luận chính trị và kiến thức quản lí nhà nước. Trong thời gian qua đã có 259 lượt cán bộ, công chức, viên chức công tác ở vùng dân tộc miền núi được bồi dưỡng tiếng Bru -Vân Kiều. Nhiều sinh viên cử tuyển sau khi tốt nghiệp ra trường được UBND tỉnh ưu tiên tuyển dụng vào công chức cấp xã, huyện, tỉnh theo hình thức xét tuyển không qua thi tuyển và xét tuyển đặc cách vào viên chức khi có chức danh vị trí việc làm phù hợp trình độ đào tạo…

 

Tuy vậy công tác đào tạo nguồn nhân lực cho miền núi vẫn còn một số hạn chế, đó là lực lượng lao động qua đào tạo nghề còn thấp, không ít cán bộ trình độ năng lực hạn chế, nhất là việc vận dụng chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước vào thực tế địa phương. Chính sách cử tuyển chưa đi đôi với việc sử dụng sau ra trường, chính sách đào tạo nghề vẫn còn những hạn chế.

 

Trong thời gian tới cần tiếp tục công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực miền núi. Tăng cường cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng đồng bào dân tộc, nhất là các địa bàn xung yếu về quốc phòng-an ninh. Nghiên cứu có chính sách ưu tiên trong tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ công tác ở miền núi và vùng đồng bào DTTS sinh sống. Nâng cao chất lượng các trường nội trú. Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ở miền núi và vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống, trên cơ sở đó có các giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả các chính sách về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người dân, làm cho miền núi ngày càng khởi sắc, phát triển.

 

Phước An

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ