Từ việc tìm chọn di cảo thơ, tôi hiểu thêm về Chế Lan Viên như thế nào?


Ngày cập nhật: 28/11/2020 06:24:12

(QTO) - Nửa năm trước, giữa tôi và một nhà thơ nữ trẻ đã có một cuộc trò chuyện khá lâu về việc tôi tìm chọn di cảo thơ Chế Lan Viên. Tháng 10/2020, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chế Lan Viên, nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy mình nên viết lại cuộc nửa trò chuyện, nửa phỏng vấn này, gọi là góp một chút tư liệu vào cuộc hội thảo về thơ Chế Lan Viên tại nhà lưu niệm nhà thơ ở Cam Lộ, Quảng Trị.

 

Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên được xây dựng hoàn thành vào dịp chào mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông tại quê hương Cam Lộ -Ảnh: T.H​

 

-Nhà thơ (NT): Trước khi qua đời, anh có trăn trối gì về việc tìm chọn di cảo không, chị?

 

-Nhà văn Vũ Thị Thường (VTT): Không có, bởi khi đó anh còn tỉnh táo, anh còn nghĩ vào Bệnh viện Chợ Rẫy 1 tháng để được khám tổng quát, được lên nằm lầu 10 để hưởng chế độ ăn uống bồi dưỡng như các chuyên gia nước ngoài, được ở đấy thảnh thơi làm thơ và viết tựa cho mấy tập thơ của bạn. Khi được xét nghiệm, đươc làm sinh thiết rồi, anh vẫn còn tin rằng mình chỉ bị u lành, cắt nó đi rồi mình sẽ khỏi, sẽ lại được trở về làm thơ - trồng cây - cuốc đất… Anh còn hy vọng như thế, làm sao tôi có thể mở miệng bàn với anh những chuyện để anh nhận ra rằng mình đang bệnh nặng, rằng anh bị ung thư phổi đã di căn lên não, rằng anh chỉ còn sống được từ 3-6 tháng là cùng, cho nên giữa chúng tôi chẳng có chuyện trăn trối nào hết. Mãi đến tháng 3/1989, khi tự biết mình không qua khỏi được, anh mới đưa tôi một mục lục vẻn vẹn 30 bài, đều là những bài đã đăng báo và anh bảo tôi “mai mốt em đưa đến Nhà xuất bản Văn học hay Nhà xuất bản Thuận Hóa chỗ anh Vương Hồng, nói họ in cho, ít nhất cũng được một khoản tiền còm cho em và con”. Tôi nghe, lòng rất buồn song ngoài mặt vẫn phải làm như không, nói sẽ làm ngay nhưng ít bài thế này, sợ sách in ra có mỏng quá không? Anh cau mặt: “Mỏng còn hơn tham, lấy thêm những bài yếu, dày mà làm gì?”. Tôi cố gạn: “Hay mình tìm trong mấy tập nháp, chọn lấy thêm những bài tương tự như “Thời gian nước xiết” hay “Vọng phu”… mấy bài in chung trong tờ bướm vừa rồi cũng được lắm chứ?” Anh gắt : “Những bài ấy mới chỉ là phác thảo, được là được thế nào?”. Tôi không dám nhìn vào mắt anh, tôi biết anh rất buồn. Đối với anh, điều đáng sợ hơn cả cái chết là không còn làm thơ được nữa!

 

Ba tháng sau, anh mất.

 

Theo lời anh dặn lại, tôi tập hợp những bài anh ghi trong mục lục. 30 bài mỏng quá. Tôi lấy tiếp 36 bài nữa cũng là những bài đã đăng báo mà vì quá cầu toàn, anh đã loại ra. Nếu anh còn sống thì chuyện cầu toàn là đúng nhưng giờ anh đã mất, không ai đòi những bài thơ cuối cùng ấy phải hay hơn. 66 bài thơ với tên sách anh đã đặt sẵn: Hoa trên đá II. Bản thảo có rồi nhưng thời kỳ này hình như người đọc đã bắt đầu xa thơ và các nhà xuất bản bắt đầu cân nhắc chuyện lỗ - lãi, mình có nên đưa lúc này hay không? Tôi phân vân… Cuối cùng tôi giữ lại, để rồi 3 năm sau, tôi đưa “Hoa trên đá II” vào in chung trong “Di cảo thơ Chế Lan Viên tập I”.

 

-NT: Cuối cùng chị vẫn tìm chọn di cảo đấy thôi?

 

-VTT: Thoạt đầu tôi chỉ định tìm đọc và nhặt ra một số bài, cả hay và dở trong các cuốn sổ tay rồi đánh máy, tập hợp thành một tập di cảo riêng cho gia đình, như thế chẳng có gì trái ý nhà tôi hết. Chỗ này cũng cần nói rõ thêm, chữ nhà tôi viết rất khó đọc, nhất những đoạn anh viết như giữa cơn say, hoặc bị cuốn theo vần thì chữ thường mất nét, nếu tôi không đánh máy, tức làm cái việc “phiên chữ” thì trong nhà trừ tôi ra, chẳng người nào đọc đoán nổi. Nhưng khi tôi chạm đúng vào cái kho di cảo thì tôi thấy dứt khoát phải chọn, phải đưa di cảo của anh đến với bạn đọc, nếu không đưa, tôi sẽ là người có tội với nền thơ nước nhà. Gọi là kho, tôi không nói quá một tí nào, vì ngoài 897 bài có ghi số thứ tự, còn cả trăm bài thơ không đánh số trong các sổ tay cũ, trong các tờ rời, như bài “Từ thế chi ca II” hay bài “Tóm truyện phim”… chẳng hạn. Cái kho ấy chủ yếu nằm trong hơn ba chục cuốn nháp với những cái tên Nháp 1, Nháp 2, Bào thai và Mảnh vỡ, Chuẩn bị cho 1990, Thơ cho em, Prométhée 86…, tất cả để trong một cái túi xách tay màu nâu sờn cũ. Tôi nhớ khoảng từ năm 84-85 cho đến tháng 8/1988 trước khi vào bệnh viện, hằng ngày anh đọc và viết trong những tập nháp đó, đối với anh, chúng quý giá đến mức mỗi lần ra Bắc làm việc, anh đều dặn tôi mỗi một câu: Nếu hỏa hoạn cháy nhà, nhớ trước hết phải chạy cho anh cái túi xách ấy.

 

-NT: Em nhớ việc chọn tuyển thơ đâu phải chị mới làm lần đầu, mà là chị đã làm 2 lần khi anh còn sống, phải không?

 

-VTT: Em nhớ đúng đấy. Tôi đã làm 2 tuyển tập thơ - văn cho anh ấy, một in ở Nhà xuất bản Văn học năm 1985, một tuyển tập nữa in ở Nghĩa Bình năm 1988. Tập sau này ra trước ngày anh vào Bệnh viện Chợ Rẫy chừng vài tháng.

 

-NT: Em nghĩ biết đâu đó chẳng là anh hướng cho chị thực tập dần dần mà chị không biết?

 

-VTT: Điều em nghĩ không chừng mà thế thật.

 

-NT: Giữa các tập thơ đã xuất bản với thơ di cảo, chị có thấy khác biệt gì không?

 

-VTT: Khác biệt nhiều chứ. Càng đọc, tôi càng thấy như mình lạc vào một không gian khác lạ. Thấy như mình tìm về một xóm làng heo hút, gặp một người đang ở ẩn hay như một chiến tướng, hết chiến tranh rồi, cởi bỏ quân phục cùng mọi thứ huân chương, trở về với ruộng vườn, với những người bạn nghèo trong lối xóm. Bắt đầu từ một số bài đã đăng báo khi anh đang còn như “Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh”, “Lộn trái”, “Gửi Trạng Thông họ Hoàng”… câu thơ đã có phần tự do, phóng túng, không còn quá gò bó với vần, dần khác với các tập thơ từ những năm 70 trở về trước. Đến các bài di cảo, do anh viết theo cái hướng anh đã vạch ra “hễ cứ có 1 câu, ép, gán ẩu cho thành bài, từ đó viết một hơi” nên các câu thơ càng tùy hứng, các chữ lam lũ, dại khờ, chân quê… cũng theo đó mà ào ạt vào theo, tạo nên môt số bài như người say hay người điên nói (Đông Kisôt”, “Những câu thơ”, “Thơ hiện đại”, “Chơi”, “Thơ thế kỷ XXI…”) Tuy nhiên, dù các vần, các chữ muốn kéo đi đâu, anh vẫn hướng chúng về cái tứ của bài, để cho các bài không rơi vào tầm thường, vô nghĩa. Chẳng hạn bài “Đông Kisôt”, mới đọc, tôi tưởng như đó là bài thơ vui, ngộ nghĩnh, nhưng không phải, cái tứ của bài lại gợi cho ta một nỗi buồn lo khác khi xã hội thờ ơ với bất công, tội ác.

 

-NT: Không biết em nhớ có đúng không, rằng trong một bài Tựa, anh đã ví chuyện chuyển hướng thơ không khác gì một cuộc chuyển quân?

 

-VTT: Em nhớ đúng đấy. Ở bài “Tựa 2” in trong Tuyển tập thơ Chế Lan Viên anh viết: “Phải làm một cuộc chuyển quân, một cuộc chuyển thơ từ nơi êm đềm, ẩm ướt của lòng mình đến các nơi cằn khô cháy bỏng, đến các chiến trường”. Đó là giai đoạn từ sau “Điêu tàn” và “Vàng sao” chuyển qua bước đệm “Gửi các anh”…

 

Cuộc thứ nhất, sau lưng Chế Lan Viên chỉ có “Điêu tàn” và “Vàng sao”, tưởng rằng dễ, song cái khó lại nằm ở chỗ hệ tư tưởng. Sau 2 tập kể trên, vào khoảng từ 1942 trở đi, anh bế tắc và gần như không viết được nữa. Anh đi tìm niềm tin ở Phật, ở Chúa. Các đấng trên cao chẳng giúp gì được anh. Anh buồn bã, hoang mang và anh càng ngụp lặn sâu vào cái bể siêu hình.

 

Năm 1945, anh đi theo cách mạng ngay từ những ngày đầu, ở Thừa Thiên - Huế, anh tham gia Ban chấp hành Đoàn Xây dựng và làm báo Quyết Thắng xuất bản hằng ngày của Việt Minh Trung Bộ nhưng lại từ chối không vào Hội Văn hóa Cứu quốc vì anh sợ anh sẽ mất tự do và sẽ mất luôn thơ. Cũng thời gian ấy, Việt Minh Trung Bộ tổ chức chuyến đi thực tế cho các văn nghệ sĩ, anh cùng hai anh Nguyễn Đức Nùng, Trần Thanh Địch được cử vào mặt trận Tây Nguyên, đó cũng là chuyến đi đầu tiên của các văn nghệ sĩ trong cả nước. Đoàn lên Tây Nguyên - nơi đang là mặt trận nóng bỏng - qua Đà Nẵng, Hội An, đến đâu đoàn cũng được đón tiếp nồng hậu, đó là chuyến đi anh rất phấn khởi nhưng chỉ thế thôi, bởi sau đó anh vẫn… đứng ngoài Hội Văn hóa Cứu quốc!

 

Năm 1947, Mặt trận Huế vỡ, anh cùng cơ quan chuyển ra vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh. Thời kỳ về làm Thư ký tòa soạn Báo Cứu Quốc Liên khu IV (cũng báo ra hằng ngày), anh rất xông xáo, tích cực, được các đồng chí lãnh đạo Liên Khu ủy quý trọng, Chi bộ cơ quan không ít lần gợi ý anh nên gia nhập Đảng, anh đều tìm cớ thoái thác chỉ vì anh vẫn chưa thoát ra được nỗi lo mất tự do và mất thơ.

 

Cho đến tháng 10/1949, anh được phân công đi thực tế dài hạn vào vùng tạm bị chiếm Bình - Trị - Thiên, nơi chiến trường khốc liệt nhất. Trong chiến dịch Đường 9, anh được đi theo một đại đội bộ đội, đại đội này đêm ấy có nhiệm vụ diệt Đồn Tà Cơn, đóng ở địa bàn huyện Hướng Hóa. Về sự kiện này, anh viết: Tôi nhớ trong một chiến dịch trên đường số 9, năm 1949, tôi đi cùng bộ đội. Nghe tiếng gọi “Chiêu hòa!” (tên một thứ súng Nhật), một đồng chí bộ đội mang Chiêu hòa tiến lên, qua trước mắt tôi. Ba phút sau, người ta khiêng xác đồng chí ấy xuống. Lại nghe gọi “Browning!” (tên một thứ súng máy khác), một đồng chí chân đất khác lại mang Browning lên. Và 5 phút sau, người ta lại mang xác đồng chí ấy xuống ngang qua mặt tôi. Trời ơi! Tôi đắn đo, do dự, tính toán cho đến bao giờ? Những câu hỏi “Ta có còn tự do không? Văn học cách mạng có còn là văn học không?” lúc này thực là tàn nhẫn trước sinh mệnh con người! Cả dân tộc đang sống chết vì một đạo đức (Éthique) mới. Còn tôi thì đang mắc kẹt trong các vấn đề về siêu hình và thẩm mỹ (Esthétique) cũ. Vào cách mạng mình sẽ mất mát ư? Tôi nghĩ: “Mất tất cả của mình cũng được, miễn còn sinh mệnh những người dân từng vác Browning, từng vác Chiêu hòa! Miễn còn độc lập, miễn còn Việt Nam và Tổ quốc”. Giải quyết cho mình dứt khoát không thể chỉ giải quyết bằng ý niệm. Mà bằng hành động. Tôi viết đơn xin gia nhập Đảng giữa chiến trường và giữa quê mẹ của tôi”.

 

Mấy ngày sau, anh được Đảng kết nạp ngay giữa chiến khu Ba Lòng. Về sự kiện này, sau khi anh mất đã có 3 người: Nhà văn Anh Đức (1935- 2014), nhà lão thành cách mạng Trần Trọng Tân (1926 - 2014) và nhà văn, nhà báo Phan Quang đều nhắc lại khá kỹ trong các bài viết. Riêng tôi, tôi rất nhớ ơn hai liệt sĩ trong trận diệt Đồn Tà Cơn, chính sự hy sinh anh dũng mà nhẹ như không của hai anh đã kéo Chế Lan Viên ra khỏi cái thế giới siêu hình, góp phần thay đổi đời anh - thay đổi thơ anh, trả lại cho nền văn học nước nhà một Chế Lan Viên mới, một Chế Lan Viên suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã rút hết tinh lực mình để có được những áng văn - thơ đứng ngang tầm chiến lũy. Hòa bình lập lại, anh góp thêm 4 tập thơ và 5 tập văn. Cuối cùng, từ 1984 đến1988, anh trả cho đời lần trót trên 500 bài thơ phác thảo.

 

- NT: Vừa nãy chị nói bước đệm Gửi các anh là thế nào, em không hiểu?

 

- VTT: Vâng, theo cách đánh giá của tôi, là tập thơ tập hợp 13 bài thơ đầu tiên anh viết sau khi anh thoát ra khỏi hệ tư tưởng cũ, ngoài mấy bài “Bữa cơm thường ở trong bản nhỏ”, “Gởi mẹ” trong vùng giặc chiếm, Trường Sơn và Nhớ lấy để trả thù, “Gửi các anh” vừa quá mỏng manh, vừa quá yếu, nó chỉ là bước đệm từ “Điêu tàn” chuyển qua “Ánh sáng và phù sa”. Cũng từ “Gửi các anh”, tôi nhìn thấy đó là cái vỏ, cái xác khô teo của con tằm nhỏ - con tằm mới ăn 1, ăn 2 - bỏ lại để mười năm sau nó biến thành một con tằm lớn đã qua kỳ ăn rỗi, bụng đầy tơ óng đẹp có tên là Ánh sáng và phù sa.

 

Cũng từ “Gửi các anh”, cái vỏ lột, cái chứng tích đổi đời - đổi thơ của Chế Lan Viên, dường như (tôi nói dường như vì có thể là tôi nói sai) tất cả các nhà thơ, nhà văn tên tuổi đồng trang lứa với Chế Lan Viên, khi đi theo cách mạng, chẳng có ai để lại cái vỏ lột rõ ràng bằng anh.

 

-NT: Chị thích nhất bài nào trong di cảo?

 

-VTT: Trong di cảo có không ít bài hay, làm sao tôi chỉ thích có một bài?

 

-NT: Vậy những bài nào mà chị thích?

 

-VTT: Tôi thích nhiều bài, mỗi bài tôi thích ở mỗi khía cạnh khác nhau. Thí dụ như bài “Ai? Tôi!”, tôi rất thích và là bài tôi chọn ngay từ đợt đầu. Tôi thích bài “Quên”, mỗi câu như những nhát dao khoét sâu, khoét sâu mãi, cho đến lúc chạm vào những kỷ niệm buồn bã của từng người. Với “Định nghĩa dân tộc” và “Vua”, tôi thấy mình càng thương nước hơn, thương cả những ông vua giàu đến mấy cũng chỉ là vua thứ quèn! Tôi thích Mở và khép thoạt đầu nói về các kiểu thơ, rồi vần điệu cuốn đi, cuối bài lại phảng phất như một cái truyện ngắn, cực ngắn tả về sự hạnh ngộ giữa một người yêu thơ với một bài tuyệt tác, chẳng khác gì cuộc trùng phùng qua nhiều kiếp của hai người yêu nhau. “Cầm giả ca” cũng ở dạng trong thơ có truyện, tôi cũng rất thích.

 

-NT: Ngoài niềm vui đưa được thơ di cảo đến với người đọc, chị có còn niềm vui nào nữa?

 

-VTT: Còn chứ, em! Niềm vui thứ nhất là tôi như được dự một khóa học dài hạn (có khi đến hết đời cũng nên) về thơ - về thi pháp. Niềm vui nữa là, em nhớ cho, ở đây không có yếu tố tâm linh, mê tín hay ảo giác nào xen vào mà là hệ quả của cái nghiệp văn chương, là gần như hằng ngày tiếp xúc với thơ anh, hơn thế nữa, được đọc hết những ý nghĩ sâu kín nhất của anh gửi trong những bài thuộc dạng nhật ký thơ, tôi cứ có cảm giác như anh vẫn sống, vẫn ẩn hiện đâu đây trong căn nhà cấp 4 giữa mảnh vườn nhỏ bé của gia đình chúng tôi. Và cũng chính từ đó, tôi nghĩ tôi vẫn còn anh trên cõi đời này.

 

Vũ Thị Thường

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC


Trực tuyến





104255969
izmir escort bayan izmir escort bayan