Lửa ấm


Ngày cập nhật: 03/02/2019 17:00:59

(QT Xuân) - Có những ký ức chỉ thoáng qua trong chốc lát đã bị vùi lấp giữa bao nhiêu muộn phiền, toan lo của cuộc sống. Nhưng cũng có những ký ức cứ thổn thức mãi trong lòng như một niềm day dứt, dù tháng, dù năm, dù đi góc bể chân trời cũng không dễ gì quên được. Như hôm thấy tôi bần thần rọc mấy tàu lá chuối đem cho hàng xóm gói bánh tét, tưởng tiếc của, vợ tôi châm chọc: “Ôi dào, có mấy tàu lá chuối, mình không gói thì cho đi, để chỉ thêm chật vườn. Mai mốt tết con mình qua ăn hết đòn bánh nhà người ta khéo lại gấp mấy lần lá ấy chứ”. Những tàu lá xanh mướt rơi lả tả trước mặt, mủ nhễu xuống ướt đầm vạt áo mà tôi chẳng nhận ra. Ký ức tôi đang mải lang thang về những tháng ngày xa lắm, cách đây hơn hai mươi năm, khi mẹ tôi vẫn chưa về miền thiên cổ.

 

Gói bánh ngày cận tết

 

Ngày ấy, cũng vào cận tết như bây giờ, mẹ sai tôi vác thang ra vườn rọc lá chuối để gói bánh tết. Ngày thường, lâu lâu mẹ lại rọc lá chuối, cuộn thành từng xấp rồi mang ra chợ bán, chẳng đáng bao nhiêu nhưng cũng đủ mua thêm đồng quà tấm bánh cho con. Tầm 3 tháng gần tết thì mẹ cấm tiệt, không ai được động đến mấy bụi chuối sứ ở góc vườn, để dành lá tết còn gói bánh. Khoảng thời gian ấy, đêm nằm nghe gió thổi xào xạc ngoài vườn mẹ cũng thon thót giật mình, sợ rách hết lá thì gói bánh không đẹp. Cha đùa: “Bánh có đẹp hay không thì cả làng này ai chẳng biết bà khéo, không khéo sao lấy được ông chồng khỏe mạnh, giỏi giang và sinh được đàn con kháu khỉnh thế kia”. Mẹ lườm cha như thuở còn đôi mươi người dưng nước lã. Cha vốn đơn giản. Chuyện cúng quảy, lễ nghi ông rất rành rẽ nhưng không cầu kỳ, miễn có lòng thành là được.

 

Chuyện lá là vậy, chuyện nếp, chuyện củi cũng lắm nhiêu khê. Mà không nhiêu khê không được. Bây giờ chỉ cần có tiền thì... sao trên trời người ta cũng ship đến tận nhà được chứ ở quê thời khốn khó, mọi thứ phải tích cóp, chuẩn bị dần, có khi cả năm trời.

 

Nếp chẳng hạn, cũng như những nhà khác, năm nào cha cũng dành một, hai sào để trồng nếp. Gì chứ nếp là phải phơi phong, sàng sảy thật kỹ, sau đó mẹ mới chia ra. Phần nếp mẩy nhất để dành gói bánh dịp tết và cúng kỵ, giỗ chạp, còn lại mới xay ăn dần hoặc đem bán. Cái phần nếp để dành ấy được giữ trong mấy lớp bao bì chắc chắn để phòng chuột bọ; lâu lâu được nắng lại mang ra phơi vì sợ mối mọt. Không cẩn thận để hỏng mất thì năm đó xem như hết tết.

 

Rồi củi. Phải là củi gộc, to và chắc mà cha đã lựa chọn, cất kỹ trong chái bếp. Loại củi này đã cháy thì cháy rất bền và đượm. Nhiều lần tôi thắc mắc, rằng mỗi năm một nồi bánh tét, nấu có hết bao nhiêu củi đâu mà cha phải mất công lựa chọn rồi để dành mấy khúc gỗ cả năm trời. Cha không trả lời. Có khi chính ông cũng không giải thích được vì sao. Sau này lớn lên, liên tưởng đến chuyện mẹ tôi ngồi tỉ mẫn lựa từng lon nếp, nâng niu từng tàu lá chuối, tôi chợt nghĩ rằng, có lẽ tại cuộc sống ngày ấy còn nhiều khó khăn, quanh năm suốt tháng bán mặt cho đất, bán lưng cho trời cũng chỉ mong con cái không bị đứt bữa và không đứa nào phải bỏ học giữa chừng đã thỏa nguyện nên chuyện giỗ chạp cũng thành tâm là chính chứ lấy đâu ra mâm cao cỗ đầy. Bởi vậy, tết nhất, ai cũng muốn dành những món ngon do mình làm ra để dâng lên ông bà, tổ tiên, dẫu không cao lương mỹ vị nhưng phải tươm tất, chu toàn. Hơn thế nữa, cái màu xanh mượt mà và lành lặn của lá chuối; cái căng mẩy, dẻo thơm của nếp; cái cứng cáp, nồng đượm của củi gộc phải chăng còn ẩn chứa một ước mơ sâu xa của đấng sinh thành trong những ngày đầu năm mới. Tiếc rằng tôi chưa kịp nói với cha điều này thì ông đã theo mẹ về bên ấy. Tôi giữ lại niềm tin ấy cho riêng mình. Con người ta đôi khi cũng phải biết tin vào một điều gì đó.

 

Không phải ba ngày tết, với tôi, mấy ngày cuối cùng của năm mới là khoảng thời gian bình yên, hạnh phúc nhất. Khi ấy, mọi nhọc nhằn của năm cũ đều tạm thời gác lại, những lo toan trong năm mới còn chưa kịp đến. Khi ấy, mọi người quây quần bên nhau, cùng nhau dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn cho lễ cúng giao thừa. Và như phong tục đầu năm, người ta cũng kiêng nói nhau nặng lời. Nhà tôi đông anh em nên năm nào mẹ cũng gói rất nhiều bánh tét, vừa để ra giêng ăn dần, vừa phân phát cho con cái làm quà. Mẹ tôi gói bánh rất đẹp, tròn lẳn, chắc nịch và đều tăm tắp. Cha và chị em tôi mỗi người một việc, chộn rộn cả lên. Riêng tôi nhỏ nhất nên giành việc lau sạch lá chuối để mẹ gói bánh, cái chính là chốc chốc lại với tay nhón một nhón nhụy đậu xanh cho vào mồm. Trời ạ, ngon chi lạ, dù chỉ rặt đậu xanh đánh nhuyễn thêm chút gia vị chứ chẳng có miếng thịt lợn nào. Có lẽ bình thường cuộc sống kham khổ quá nên ăn cái gì cũng thấy ngon.

 

Nói thịt lợn mới nhớ, hồi đó nhà nào cũng nuôi vài ba con lợn, mà nhất định phải có được con lợn nái thì người phụ nữ trong nhà mới được xem là “có tay” nuôi lợn, nghĩa là đảm đang, khéo léo. Có con lợn nái, mỗi năm đều đều hai lứa lợn con, cộng thêm vài con lợn thịt nữa là tết nhất khỏi phải chạy đôn chạy đáo. Mà đâu chỉ tết, tiền học, tiền áo quần, giày dép và bao nhiêu thứ chi tiêu cũng trông chờ vào đấy. Cái câu “ruộng sâu trâu nái...” dân gian hay dùng có lẽ phải là “ruộng sâu lợn nái...” mới đúng. Nuôi lợn là vậy nhưng chẳng nhà nào có nổi đòn bánh tét nhân thịt lợn, dù biết nhân thịt lợn... ngon hơn nhân đậu xanh. Đành rằng bánh làm bằng nhân thịt lợn không để lâu được trong khi ở quê ngày ấy gói bánh không chỉ dùng trong ba ngày tết mà ăn dần cho đến giêng hai, nhưng giả sử có để lâu được đi nữa cũng chẳng ai dám hoang phí đến độ mổ lợn ăn tết chứ đừng nói làm nhân bánh...

 

***

 

“Nhóm lửa lên con”, cha tôi chỉ nói đơn giản như vậy là mấy chị em tôi tự hiểu, đứa lật đật bê những viên đá to đều nhau sắp lại thành ông đầu rau để nhóm bếp, đứa múc nước, đứa ra chái bếp khệ nệ vác những khúc củi gộc vào. Dĩ nhiên là khi những đòn bánh tét đã gói xong, nằm yên hàn ở một góc nhà. Bếp lửa cháy như vậy cho đến hết ba ngày tết. Cha bảo, phải giữ cho được ngọn lửa ấm áp, sum vầy ấy cháy từ năm này qua năm khác.

 

Đêm cuối năm trời rất lạnh. Thích nhất là khi cỗ cúng giao thừa mẹ đã làm xong, cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa canh nồi bánh tét. Cha quấn điếu thuốc lá to bằng ngón tay cái, vừa chậm rãi nhả khói vừa rỉ rả kể chuyện. Chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay, rồi ba ngày tết đi đứng ra làm sao, nói năng thế nào, làm việc gì cũng phải hoàn thành. Đầu năm là phải vui vẻ, công việc chu toàn thì cả năm mới yên ấm, thuận buồm xuôi gió được, cha bảo thế. Mẹ, như thường lệ, ngồi bỏm bẻm nhai trầu, lâu lâu lại thêm vào mấy thanh củi nhỏ cho ngọn lửa sáng bừng lên trong đêm.

 

Khoảng gần đến giao thừa thì bánh chín. Cha vớt bánh ra tấm phản giữa nhà. Trong khi chúng tôi xuýt xoa vừa thổi vừa cắn những miếng bánh không tên (là phần nếp thừa không đủ để gói một đòn bánh tét, chúng tôi lấy lá gói đại vào, chẳng ra hình thù gì) thì cha tỉ mẫn lựa những đòn bánh đẹp nhất để riêng ra. Đòn này đặt trên bàn thờ tổ tiên, đòn này để cúng giao thừa, còn đòn này cúng thần bếp, rồi cúng chuồng lợn, chuồng gà, “ràn” trâu… “Ràn” cũng là một cách gọi của chuồng, nhưng không hiểu sao ở quê tôi lại gọi “ràn” trâu mà không gọi “ràn” lợn hay “ràn” gà. Mà cúng ở chuồng lợn, chuồng gà hay “ràn” trâu thì chắc cũng là một liệu pháp tinh thần cầu cho năm mới chăn nuôi thuận lợi thôi chứ tôi chưa nghe ai nói có thần trông giữ ở đó bao giờ.

 

Chúng tôi thích nhất là những đòn bánh tét để cúng chuồng bởi hết ba ngày tết sẽ được sở hữu cho riêng mình. Chị gái thường ngày phụ mẹ nuôi lợn thì được đòn bánh cúng chuồng lợn, anh trai được giao nhiệm vụ cho gà ăn thì được đòn bánh cúng chuồng gà, còn tôi, dĩ nhiên là đòn bánh cúng “ràn”. Những ngày đầu năm, khi bánh trái trong nhà đã hết, chúng tôi lùa trâu ra đồng, đứa nào cũng đeo lủng lẳng một đòn bánh tét sau lưng như bộ đội ra trận. Trời lạnh, ngồi giữa cánh đồng gió hun hút thổi, chậm rãi bóc từng lớp lá chuối ra, rồi chậm rãi đưa lên miệng cắn một miếng. Ngon ơi là ngon, như thể trần đời chẳng có miếng ăn nào ngon hơn thế, dẫu qua mấy ngày nằm yên trên gác bếp đòn bánh đã lạnh ngắt và cứng đơ như khúc gỗ. Cứ nhón nhén mà ăn như vậy đến cả tuần mới hết, rồi tiếc ngẩn tiếc ngơ…

 

***

 

Hai mươi năm trước mẹ bỏ chúng tôi mà đi. Cũng từ đó cha không còn gói bánh tét như mọi năm. Mọi thứ ông vẫn chuẩn bị sẵn, đến gần tết mang sang nhờ hàng xóm gói rồi luộc giúp. Cha không còn đốt lửa nữa, có lẽ ông không muốn nhen lên một kỷ niệm buồn. Cho đến một ngày ông lặng lẽ theo mẹ về trời. Đêm cuối năm mưa vẫn lất phất bay, gió vẫn hun hút thổi. Chúng tôi cũng không nhóm lửa. Một ngọn lửa bùng lên bây giờ sẽ khiến lòng mình lạnh thêm…

 

Rồi một ngày chúng tôi sẽ già đi, con cái chúng tôi sẽ lớn lên, những đòn bánh tét và bếp lửa đêm giao thừa sẽ lưu giữ trong ký ức của chúng qua những câu chuyện kể. Tôi không đủ can đảm để nhóm lại bếp lửa của ngày xưa, nhưng tôi muốn nhen lên trong lòng con một ngọn lửa ấm, theo cách của riêng mình…

 

Thúy An

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ