Nguyễn Tiến Đạt và thơ còn lại...


Ngày cập nhật: 05/01/2019 07:00:08

(QT) - Thi thoảng rảnh rổi ngồi một mình, tôi thường nhớ đến đồng môn, đồng nghiệp tài hoa, bạc mệnh như Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Tiến Đạt...Họ đã đi xa, thật xa nhưng đôi khi cảm giác dường như vẫn còn đâu đó, gần gụi nhưng vì mình bươn chải giữa dòng đời bận rộn nên có lúc sao nhãng bạn bè.

 

 

Nguyễn Tiến Đạt tòng sự sau cùng tại Báo Quảng Trị. Anh viết báo tinh nhạy, sắc sảo còn làm thơ thì ý tứ sâu xa mà lời lẽ có duyên, nhiều lúc bông phèng, cựa quậy khiến người đọc thích thú, cười xong lại gật đầu ngẫm nghĩ, đôi lúc không khỏi giật mình.

 

Người thơ Nguyễn Tiến Đạt trước hết là chàng trai thôn dã, nơi mà những chân trị xóm làng, gia tộc hằng ngự trị và phủ bóng ngàn năm. Khi “Cùng con đánh chiêng nhà thờ họ Nguyễn”, người viết hóa thân trong lời thơ lục bát nghe như “chuyện hò” Quảng Trị: “Đưa con về vái họ hàng/Ta cùng giòng giống xa làng bấy nay/Cha sinh chỉ một chốn này/Mới sinh con giữa phố đầy đèn hoa/Chiêng này con đánh giùm cha/Đánh vang cho họ Nguyễn ta cùng mừng”.

 

Tiếng chiêng linh thiêng, không còn là vật vô tri vô giác thông thường mà hun đúc, hàm ẩn khi thiêng dòng họ, nối người đã khuất với người đang sống, gợi nhắc nhiều điều đáng nói và đáng nhớ như tiếng chim quê kiểng gọi đàn: “Nhà thờ phượng múa rồng bay/Cây đa còn đó trúc này còn đây/Tiếng chuông gọi kẻ lạc bầy/Ai chê phận bạc, ai rày phận đen/Quê hương máu chảy ruột mềm/Trăm năm chỉ một cõi thiêng cội nguồn! Bùng...biêng...là bùng...biêng...bùng...”.

 

Nhưng bước sang bài thơ “Mu-gic” thì lại thấy một chân dung thơ của chàng thi sĩ gốc gác nông dân này muốn bắc một nhịp cầu văn chương giữa hai dân tộc qua câu chuyện của chính bản thân mình, một tự tình thơ rất chi Nguyễn Tiến Đạt: “Dẫu tôi yêu hoa hồng, hôn nhành vi-ô-lét/Đọc thơ Pu-skin và cầm tay người đẹp/Tôi vẫn là mugic của làng tôi/Nơi hạt lúa nằm mơ mở cánh mặt trời”.

 

Này nhé, nhà thơ cũng mơ mộng và lãng mạn như ai, nếu cần cũng lịch thiệp và đầy văn hóa với người đẹp. Nhưng vẫn khai rõ với nàng, lí lịch của mình là mu-gic (nông dân theo cách gọi của người Nga) không hề che giấu, trái lại còn coi đó là căn-cước-văn-hóa rất đáng tự hào nên không hề thiếu tự tin khi nhắc đến. Khổ thơ sau có thể là một minh họa cụ thể khả năng quan sát tinh tế dẫn đến sự phát hiện và sự liên tưởng rất thơ khi viết về làng quê: “Những ông ThiệnÁc đều đeo mặt nạ/Chỉ loài nghê lại mang mặt chính mình/Duy con biết điều này là sự thật/Vì chúng con đời mẹ nở trang kinh”.

 

Những câu thơ cuối đã tái khẳng định về mu-gic Nguyễn Tiến Đạt khi thi vị hóa cội rễ, đặc biệt cấu cuối là một liên tưởng lạ và thi sĩ: “Dẫu tôi yêu hoa hồng hôn nhành vi-ô-lét/Đọc thơ Phu-skin và cầm tay người đẹp/Tôi vẫn là mu-gic của làng tôi/Nơi bàn chân xòe năm cánh mặt trời”.

 

Một Nguyễn Tiến Đạt tài hoa và đa tình ngay khi anh viết về một địa danh chất chứa lịch sử, dồn nén cả nỗi niềm dân tộc như Hiền Lương. Chất trường ca gần gũi, cách nói sử thi cũng vẫn không hề lấn át nhân vật trữ tình khi tự sự về một thời trai gái dù đôi khi chưa hẳn là đôi lứa yêu nhau: “Tôi như chú ếch uồm uôm triệu năm há mồm trên bến vắng/Đợi gánh hát em về áo mũ xênh xang/Hãy hát đi! Con sơn ca rót mật lưng trời/Sông bắt đầu ngân rồi đấy, ánh sáng chung chiêng ân ái cùng con đò” (Bến Hiền Lương).

 

Bạn đọc thường hay nhắc đến hai câu “bản quyền” Nguyễn Tiến Đạt như một tuyên ngôn thi: “Vô vi thì buồn, viết thì sợ/Trời rộng đành đưa chén ngang mày” như lối thể hiện ám gợi, nghĩa vượt ra ngoài chữ vẫn hay gặp trong thơ Đạt, chạm đến tiềm thức, vô thức và tâm linh trong thi ca: “Anh vẫn về lối cũ/Nghe một tiếng mèo hoang/Trên tóc mai ớn lạnh/Vết thời gian in hằn” (Mười năm).

 

Quay lại với bài thơ “Bến Hiền Lương”, Nguyễn Tiến Đạt thăng hoa thơ trong cảm xúc như thể lên đồng rất cần khi nói chuyện tâm linh bằng những thi ảnh ma mị, khác thường dù chiến tranh tưởng đã lùi xa lại vẫn hằn lên gương mặt hòa bình, lại vẫn chung gối chăn với người kể cả trong và ngoài giấc ngủ. Đây cũng là một phát hiện bằng thơ nửa thực, nửa hư của thi sĩ Nguyễn Tiến Đạt: “Trên dòng sông vọng điệu hò đưa linh/Của những nỗi niềm tiền kiếp/Rào rào dốc đỉnh Trường Sơn/Chiến tranh rạch qua đời tôi những đường sấm sét/Người đôi bờ nửa đêm hay thức giấc/Cả những đêm sau năm hai nghìn/ Những người già chưa bao giờ qua được bên kia sông/Họ vẫn còn lởn vởn trên mặt nước/Đêm đêm tôi nghe những tiếng gọi đò và tiếng người xin lửa/Họ ra đi trước ánh sáng mặt trời thắp lên”.

 

Đọc lại thơ Đạt lại thấy anh có khí chất và phong độ thi sĩ, có vẻ thi nhân từ trong huyết quản. Tôi thấy anh tài hoa và có thể cả đào hoa như thơ của chính mình, cả cái chất hài hước, bông lơn dù viết thơ tình. Tôi lại nhớ hồi mới tái lập tỉnh Quảng Trị, anh đem tập thơ tới tạp chí văn hóa văn nghệ địa phương. Tình cờ tôi đọc và bỗng nhiên nhớ hai câu từ bấy đến giờ: “Ơi người tóc bạc cùng tôi/Lại đây ta nói những lời bướm ong”.

 

Tôi cho thơ như thế là đạt vì quá Đạt! Nên dù anh có đi xa nhưng thơ vẫn cứ phảng phất đâu đó cùng với anh em, bạn bè, với những người ở lại.

 

Phạm Xuân Dũng

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ