Không ở Khe Sanh cũng nhớ Khe Sanh


Ngày cập nhật: 05/07/2018 09:59:43

(QT) - Tên bài cũng xuất xứ từ một câu thơ Nguyễn Bính “Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”. Mà thật vậy, năm 2003 khi giang hồ vặt lên xứ sở hoa đào Đà Lạt sống cùng nhà báo Minh Tự, một hôm lang thang trên phố, tôi chợt giật mình thấy trước mặt tên đường “Khe Sanh”. Quá bất ngờ và thú vị, tôi kêu lên. Ai hay tên gọi một thị trấn nhỏ bé vùng cao Quảng Trị lại được đặt cho một con đường khá lớn tại thành phố du lịch cao nguyên lừng lẫy bốn phương. Nói theo cách nói maketting thời này, đó cũng là một cách “quảng bá thương hiệu” Khe Sanh sâu sắc, đầy ấn tượng và vững bền vào bậc nhất. Mà Khe Sanh cũng xứng danh như vậy lắm chứ, nhắc lại một chút nếu như có ai đó đôi khi vì quá quen thuộc còn ngập ngừng chuyện “Bụt chùa nhà không thiêng”!

 

Giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Ảnh: CÔNG ĐIỀN

 

Nhưng tại sao Khe Sanh lại được biết nhiều đến vậy, lại lan tỏa ra ngoài biên giới, gây dư chấn đến tận bên kia đại dương. Và vì điều gì mà một địa danh Việt Nam lại gây nên nhiều tranh cãi và ám ảnh khi chiến sự đã lùi xa tít tắp?

 

Mùa hè này, tôi có chuyến lên Khe Sanh, Hướng Hóa, cao nguyên của tỉnh Quảng Trị, một nơi chốn đã chứng kiến không biết bao nhiêu những-cuộc-đi-về. Vào thăm lại Bảo tàng chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh trong cái nắng rực rỡ chói chang như muốn bạch hóa mọi điều từ quá khứ. Những kỳ tích của cuộc chiến tranh nhân dân như tháo xích xe tăng gùi vào trận địa gây bất ngờ lớn cho đối phương, thêm sáng tạo mới trong binh pháp hiện đại, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc vùng cao Hướng Hóa kề vai sát cánh nếm mật để hoàn thành xuất sắc chiến dịch Khe Sanh, nơi được mệnh danh là Điện Biên Phủ đối với người Mỹ ở Việt Nam. Với tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bất ngờ lớn nhất của người Pháp là sự có mặt và tham chiến rất hiệu quả của pháo binh Việt Minh, còn với tập đoàn cứ điểm Khe Sanh năm 1968 thì bất ngờ lớn nhất có ý nghĩa quyết định đối với người Mỹ là sự xuất hiện như trên trời rơi xuống của xe tăng quân giải phóng.

 

Từ một thị trấn heo hút miền tây Quảng Trị, bỗng chốc Khe Sanh đã hiện diện thành sa bàn trong Phòng Bầu Dục của Nhà Trắng làm đau đầu cả Tổng thống Mỹ Johnson khi theo dõi thông tin chiến sự Việt Nam. Trong Bảo tàng chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh, tôi tần ngần đứng trước dòng chữ của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ vào thời điểm ấy, ông James R. Schlesinger: “Tuy chúng ta đã ném cả danh dự nước Mỹ ra để giữ (Khe Sanh) và buộc hội đồng tham mưu trưởng liên quân cam kết bằng máu, nhưng cuối cùng cũng phải rút chạy”. Nhưng chiến dịch Khe Sanh không chỉ khuấy động nước Mỹ lúc bấy giờ và cả sau này nữa mà còn đánh thức quá khứ lịch sử từ gần ¼ thế kỷ trước, buộc người Pháp phải liên tưởng đến Điện Biên Phủ. Tháng 2/1968, khi chiến dịch Khe Sanh mới bắt đầu ít lâu, tuần báo Spiegel đã có cuộc phỏng vấn trung tướng Rene Cogny (Cô-nhi), cựu Tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp tại Bắc Bộ giai đoạn 1953-1954, một người gắn bó với tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Một bài phỏng vấn rất đáng đọc và suy ngẫm.

 

Khi được hỏi câu hỏi đầu tiên: “Thưa ông, một chỉ huy người Pháp, người đã thua trận ở Điện Biên Phủ năm 1954, người đấy có thể tin rằng người Mỹ sẽ thắng trận ở Khe Sanh năm 1968 không?”. Ông ta đã trả lời: “Tôi tin chắc rằng người Mỹ ở Khe Sanh có thể chiến thắng, họ mạnh hơn chúng tôi ở Điện Biên Phủ tới mức không thể so sánh được. Chúng tôi không có lực lượng không quân có thể hủy diệt tất cả đấy, chúng tôi còn chẳng có trực thăng nữa”. Và câu hỏi cuối: “Thế thì nếu như ông là Tổng Tư lệnh của người Mỹ, ông cũng không ra lệnh rút bỏ Khe Sanh?”. “Chắc chắn là không. Khe Sanh đã trở thành một biểu tượng. Nếu như người ta bỏ nó, thì đã nhận lấy một chiến bại ngay từ đầu rồi”. Thì ra có những bài học lịch sử xương máu nhưng không phải ai cũng thuộc, kể cả những tướng lĩnh cao cấp, dạn dày chinh chiến như Cogny.

 

Rồi mọi chuyện kể từ ngày ấy đã qua đi đến nay đã nửa thế kỷ. Đối với lịch sử trường thiên thì ngần ấy thời gian cũng không phải là quá ngắn, còn với nhân sinh thì dài gần như bao trùm lên cả một đời người. Chắc mấy ai để ý đến chuyện trước hôm tướng Pháp Cogny trả lời phỏng vấn có một ngày, anh lính Mỹ Ronald Ridgeway đã bị bộ đội ta bắt làm tù binh ở Khe Sanh vào 25/2/1968. Ở bên kia đại dương, gia đình anh tưởng rằng con đã chết nên làm đám tang. Không ngờ 5 năm sau, khi Hiệp định Paris mới vừa được ký kết một ngày, Ronald Ridgeway được trao trả tù binh vào 28/1/1973 trong nỗi vui mừng khôn xiết của người thân.

 

Câu chuyện anh lính Mỹ năm xưa sẽ dừng lại ngang đó với một kết thúc có hậu đủ làm hài lòng tất cả mọi người nếu không có phần hai nối tiếp. Khi anh này bị bắt làm tù binh đang lúc bị thương nên được một anh bộ đội quân y băng bó. Chuyện thường ngày trong chiến tranh nên có vẻ như ít người nhớ đến, nhất là khi đã qua 50 năm trời. Vậy mà mới đây, vào năm 2017, cựu chiến binh Phạm Công Hưởng của Tiểu đoàn 404 đặc công (QK.5) hiện sống ở Hà Nội cho biết đã trao đổi thông tin với tổ chức “Hành trình của tình anh em” của Hội CCB Mỹ. Tổ chức này đã cung cấp một bức ảnh anh bộ đội chăm sóc một lính Mỹ bị thương. Ông Hưởng đã kết nối được với bà Donna Elliott, chị gái người lính Mỹ bị thương nói trên. Ông Hưởng cho biết người lính quân y bộ đội đó là ông Phạm Hồng Thịnh đã chăm sóc vết thương cho Ronald Ridgeway. Người cựu binh Mỹ này cùng gia đình rất muốn biết tin tức và mong gặp lại ân nhân đã cứu giúp mình giữa những ngày Khe Sanh nóng bỏng trong cuộc chiến khốc liệt ở Việt Nam. Tình người và lòng biết ơn sâu sắc đã rút lại nhiều khoảng cách giữa những người đã từng là cựu thù, từng đứng giữa hai bên chiến tuyến đối kháng nhau. Cuộc gặp giữa hai cựu binh dù chưa diễn ra nhưng nếu có sẽ hứa hẹn nhiều điều bất ngờ, thú vị, cảm động và nhân hậu. Câu chuyện năm mươi năm xa xôi phút chốc đã gần gũi như thể mới hôm qua lóng lánh một thông điệp hòa bình và khoan dung, độ lượng.

 

Cũng trong mùa hè này, một hôm hẹn với anh Nguyễn Thận (người giúp tử tù Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận giải oan) về thăm quê, tôi tình cờ gặp một Việt kiều gốc Quảng Trị ở nhà một hướng dẫn viên du lịch khá lâu năm và có nhiều kinh nghiệm là anh Trần Xuân Huy tại Đông Hà. Cũng chẳng có gì đáng nói nhiều nếu như ông Phạm Quyến hiện đang định cư ở thủ đô Hoa Kỳ Washington không trình bày ý tưởng của mình. Ông Quyến tâm sự trong bữa cơm rằng mình rất muốn thực hiện một dự án du lịch quy mô hoành tráng tại quê nhà gắn liền với tour hoài niệm chiến trường xưa lấy hàng rào điện tử Mc. Namara làm xương sống, bắt đầu từ Dốc Miếu, Cồn Tiên và đương nhiên không thể thiếu Khe Sanh, Lao Bảo. Nhưng vì nhiều lý do nên mấy năm nay ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Ông kể rằng mình vốn là đứa trẻ sống cạnh quốc lộ 1, ngay ranh giới giữa hai huyện Gio Linh, Cam Lộ, có rất nhiều kỷ niệm với hàng rào điện tử mang tên bộ trưởng quốc phòng Mỹ một thời. Mặc dù chưa hề đi lính nhưng ký ức chiến tranh như là một phần máu thịt của cuộc đời nên khi định cư ở Mỹ ông luôn ấp ủ muốn làm việc gì đó có ích cho quê hương đất nước và cho tình hữu nghị Việt-Mỹ. Người Việt xa xứ này còn kể nhiều chuyện rất cảm động. Do công việc của một phiên dịch, lại có mối quan tâm đến chiến tranh Việt Nam nên ông có rất nhiều cơ hội tiếp xúc và làm việc với các cựu binh Mỹ, kể cả nhiều cựu sĩ quan cao cấp. Lần gần đây nhất, khi được hỏi quê ở đâu, ông trả lời mình người Quảng Trị, rồi nêu các địa danh Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh...thì ngay lập tức nhiều cựu tướng lĩnh quân đội Mỹ đã ôm chầm lấy ông và khóc. Họ đều bảo biết các địa danh ấy, vì tuổi trẻ đã từng đóng quân, đã từng tham chiến ở những địa danh như thế, những tên gọi ấy đã trở thành những kỷ niệm để đời như là một nỗi nhớ không thể nào quên. Khi nghe ý tưởng về dự án du lịch Quảng Trị của ông, họ đều bày tỏ sự ủng hộ hết mình và hứa sẽ giúp đỡ hết sức vô tư để dự án trở thành hiện thực, kể cả những việc khó như thuyết phục nhà cầm quyền Mỹ cấp một số xe tăng, pháo 175 ly thời chiến thường được đối phương gọi là “Vua chiến trường” sang lại Việt Nam để phục dựng hàng rào điện tử Mc. Namara. Điều này nếu thành hiện thực cũng là một kỳ công.

 

Những cựu binh Mỹ bảo rằng làm du lịch như thế là để hai dân tộc Việt và Mỹ hiểu nhau hơn, nhìn lại chiến tranh rõ hơn để hướng tới một nền hòa bình vững bền mà nước nào cũng cần và mong muốn tột cùng. Ông Phạm Quyến bảo tuổi đã lớn, ngoài sáu mươi rồi nên xem đây như là tâm nguyện cuối đời với quê cha đất tổ. Chúng tôi ngồi nghe ai nấy cùng ồ lên, quá hưng phấn trước ý tưởng của ông và đồng ý cả hai tay. Nhưng một dự án lớn như vậy nên bắt đầu từ đâu? Sau một hồi bàn luận, tôi hiến kế là ông nên tìm gặp người đứng đầu chính quyền địa phương Quảng Trị là ông Nguyễn Đức Chính vốn rất nhiệt tình với các nhà đầu tư, nhất là Việt kiều mà lại có gốc gác Non Mai Sông Hãn. Nhà báo Lê Đức Dục nhanh chóng ủng hộ tư vấn của tôi và một cuộc gặp giữa một Việt kiều yêu nước, một nhà đầu tư với Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị là ông Nguyễn Đức Chính được kết nối. Ít hôm sau, điện thoại tôi reo lên và giọng nói ông Phạm Quyến ở đâu dây khoe rằng đã gặp được vị lãnh đạo chính quyền Quảng Trị để trình bày ý tưởng và được lắng nghe, ghi nhận. Mọi việc vẫn đang còn ở phía trước nhưng khởi sự như vậy là thuận lợi bởi vạn sự khởi đầu nan như người xưa vẫn nói. Những ai quan tâm chắc hẳn đều mong mỏi dự án du lịch chiến trường xưa nói trên sớm trở thành hiện thực, để Cồn Tiên, Dốc Miếu, Hiền Lương, Khe Sanh, Hướng Hóa trường tồn cùng lịch sử. Cầu và chúc mọi điều tốt lành cho những ai nặng lòng với Quảng Trị-Việt Nam.

 

Trong Bảo tàng chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh có nhiều điều đáng xem nhưng sẽ là thiếu vắng nếu như chưa xem qua lá cờ “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” do Chủ tịch nước tặng thưởng cho Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Hướng Hóa. Đó là minh chứng về một điều rằng ngày hôm nay đã sống xứng đáng với ngày hôm qua, trong đó có những địa danh lừng lẫy như Khe Sanh, Thành Cổ Quảng Trị...

 

Nắng trưa vàng trải thảm trên cao nguyên Hướng Hóa. Khe Sanh cũng gây men cảm hứng cho dân văn nghệ. Bất chợt nhớ đến nhà thơ quê lúa Hải Lăng Võ Văn Luyến nhiều lần cao hứng đọc và hát bài thơ cũng do chính mình phổ nhạc dù không phải là nhạc sĩ chuyên nghiệp: “Khe Sanh-giấc mơ cao xanh” bằng một tình yêu trẻ trung và nồng đượm. Những câu thơ-hát bỗng âm vang: “Có muộn quá không Khe Sanh ơi!/Con tim bảo hát lên cho đỡ nhớ/Viên cuội bảo mai xuôi về nằm mớ/ Quanh mình anh đâu cũng đất Khe Sanh...”. Khi đã yêu, đã nhớ thì con người ta bỗng muốn hát lên bằng chính thơ mình, bằng những điều mình nói thường ngày. Khe Sanh là như thế!

 

Còn ngoài kia, dưới cánh máy bay vận tải của di tích sân bay Tà Cơn, một đôi uyên ương nơi khác đến Khe Sanh đang chụp ảnh trong mùa cưới. Đó cũng là một cách mà tôi gọi là lãng- mạn-sử- thi, kéo quá khứ xa xôi cả vạn ngày trời về trong sớm mai nay chứng kiến hạnh phúc lứa đôi. Quá khứ đã đồng hiện với hiện tại mà không cần vay mượn một thủ pháp điện ảnh tân kỳ. Vậy thì không chỉ ở Khe Sanh mới nhớ Khe Sanh, mà không ở Khe Sanh cũng vẫn nhớ Khe Sanh. Bởi dẫu không phải là nhà tâm lý học cũng ngộ một điều: trí nhớ con người chỉ lưu giữ những điều đáng nhớ.

 

Và trong những điều vô cùng đáng nhớ, có một địa danh Việt Nam đầy ám ảnh: Khe Sanh!

 

Phạm Xuân Dũng

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ