“Trồng người” nơi vùng đất khó. Bài 2: Từ “bản trắng” giáo dục đến trường chuẩn, trò ngoan


Ngày cập nhật: 30/05/2019 06:16:12

“Trồng người” nơi vùng đất khó. Bài 1: Những ngày đầu gian nan

 

(QT) - Từ những lớp học tranh tre, nứa lá tạm bợ ngày mới lập lại tỉnh, giờ đây ở các huyện miền núi, mạng lưới trường, lớp đã được đầu tư khang trang hơn, đàng hoàng hơn để đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt của giáo viên, học sinh. Cùng với sự hoàn thiện về cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục ở miền núi cũng có những bước chuyển rõ nét.

 

Xây dựng môi trường giáo dục thấu hiểu, thân thiện đối với học sinh người dân tộc thiểu số. Ảnh: TT

 

Niềm vui từ những ngôi trường mới

 

Chúng tôi ghé thăm Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Pa Nang, được thành lập năm 2013 trên cơ sở chuyển đổi từ Trường THCS Pa Nang. Ngôi trường được xây mới và đưa vào sử dụng từ năm 2005, ngay tại khu vực trung tâm của xã. Đây là nơi học tập, sinh hoạt của học sinh người dân tộc thiểu số ở 9 thôn bản của xã Pa Nang, trong đó có 6 thôn bản cách trường từ 7-15 km. Được học tập trong những lớp học kiên cố khang trang, được sinh hoạt, nghỉ ngơi tập trung tại chỗ đã giúp cho học sinh ở nhiều bản làng xa xôi đến gần hơn với con chữ. Em Hồ Thị Kia, học sinh lớp 9A cho biết: “Nhà em nghèo lắm, ở tận bản Tà Mên xa xôi. Được vào đây học tập, ăn ở tại trường, trong những căn phòng sạch sẽ, em rất vui. Điều kiện học tập tốt là nguồn động viên để em và các bạn nỗ lực hơn trong học tập”. Thầy Hiệu trưởng Lê Thanh Tùng đã 18 năm gắn bó với ngôi trường này thấu hiểu hơn ai hết về hiệu quả mô hình trường học bán trú, đó là đã giải quyết được những “rào cản” của việc học ở vùng cao, đảm bảo sĩ số học sinh ở các thôn bản xa trung tâm đến lớp, tạo điều kiện cho các em có thời gian tập trung học hành, tăng cường thể chất cho các em khi được ăn ở tập trung, sinh hoạt điều độ. Nhờ đó, kết quả tỉ lệ tuyển sinh đầu cấp, tỉ lệ huy động số lượng, tỉ lệ chuyên cần hằng ngày trên lớp đều tăng so với năm học trước.

 

  Đến nay, huyện Đakrông có 9 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, tỉ lệ học sinh khá, giỏi, hạnh kiểm tốt được nâng lên rõ rệt. Đặc biệt, lần đầu tiên huyện có học sinh đoạt huy chương vàng, huy chương bạc tại Hội khỏe Phù đổng toàn quốc; huy chương vàng cuộc thi Olympic tiếng Anh trên mạng trực tuyến (IOE) cấp quốc gia...Riêng đối với Hướng Hóa, năm 1997 huyện được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ; năm 2005 được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục THCS; năm 2006 được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và từ đó đến nay luôn củng cố vững chắc kết quả đã đạt được. Toàn huyện Hướng Hóa hiện có 20 trường học đạt chuẩn quốc gia.​

Không chỉ Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Pa Nang, nhiều ngôi trường khác trên địa bàn huyện Đakrông cũng được đầu tư xây dựng kiên cố, khang trang, tạo điều kiện cho học sinh miền núi có chỗ học tập ổn định. Năm 1997, huyện Đakrông được thành lập trên cơ sở 10 xã của huyện Hướng Hóa và 3 xã của huyện Triệu Phong. “Ra riêng” trong điều kiện toàn huyện chỉ có 13 trường học với 130 phòng học, trong đó chủ yếu là trường tiểu học, hệ thống giáo dục THCS chỉ mới manh nha với 2 trường PTCS và 4 trường tiểu học nhô (trường tiểu học có mở cấp lớp THCS), chưa có giáo dục THPT, ngành Giáo dục huyện Đakrông huy động mọi nguồn lực để có đủ trường lớp cho trẻ đến trường. Sau 22 năm thành lập huyện, mạng lưới trường lớp cơ bản hoàn chỉnh với 41 đơn vị trường học từ mầm non đến THPT, đã xây dựng và đưa vào sử dụng 640 phòng học, trong đó có 378 phòng học kiên cố, các công trình phụ trợ phục vụ cho việc dạy và học.

 

Đối với huyện Hướng Hóa, hệ thống trường lớp sau ngày lập lại tỉnh được thống kê như sau: Mầm non chỉ là các lớp nhỏ của hợp tác xã hoặc thuộc các cơ quan, đơn vị; ngành học phổ thông đã định hình ở các xã kinh tế mới; cấp Tiểu học có từ lớp 1 đến lớp 5, nhiều nơi chỉ mới có đến lớp 3, cấp Trung học cơ sở (THCS) mới có ở Khe Sanh, Tân Liên, Lao Bảo; không có trường lớp hoặc phần lớn lớp học là nhà tranh, vách nứa. Đây là rào cản đầu tiên ảnh hưởng đến việc huy động học sinh đến lớp cũng như duy trì số lượng - tiêu chuẩn sống còn của giáo dục Hướng Hóa trong giai đoạn này. Trong điều kiện khó khăn đó, nhiều năm qua, huyện Hướng Hóa đã đề ra chủ trương xóa trường tạm, tranh, tre, nứa lá bằng hình thức xã hội hóa, huy động tổng lực từ nhiều nguồn đầu tư khác nhau. Đến nay, huyện Hướng Hóa có 36/65 trường học ở khu vực trung tâm được cao tầng hóa, số còn lại đã được kiên cố hóa. Bình quân hằng năm ngoài nguồn vốn đầu tư của nhà nước phân bổ về hơn 10 tỉ đồng, huyện đã huy động từ 20 đến 30 tỉ đồng để xóa trường tạm, tranh, tre, nứa lá, chấm dứt tình trạng học ca ba kể từ năm học 2017-2018. Trưởng phòng Giáo dục và đào tạo huyện Hướng Hóa Nguyễn Văn Đức chia sẻ rằng, thành quả lớn nhất của ngành Giáo dục huyện Hướng Hóa là đã xóa dần các phòng học tạm, mượn, nhất là đối với các điểm lẻ của các trường mầm non, tiểu học, đầu tư xây dựng và phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp ở các cấp học, bậc học tương đối đồng bộ.

 

Một tin vui cho giáo dục miền núi Hướng Hóa và Đakrông là trong giai đoạn 2019- 2021, HĐND tỉnh đã thông qua Đề án xóa phòng học tạm, phòng học mượn ở hai huyện với tổng mức đầu tư đề án 84 tỉ đồng, trong đó huyện Hướng Hóa cần đầu tư xây dựng 68 phòng học, Đakrông 64 phòng học. Việc tỉnh thông qua đề án có ý nghĩa lớn đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cũng như thể hiện sự quyết tâm của lãnh đạo tỉnh trong việc xóa phòng học tạm, phòng học mượn để nâng cao chất lượng dạy và học ở các huyện miền núi. Ngoài ra, việc thực hiện Đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ giáo viên qua các giai đoạn khác nhau với kinh phí hàng trăm tỉ đồng đã tạo nên một hệ thống cơ sở vật chất tương đối đầy đủ cho học sinh các bậc học và nơi ăn chốn ở ổn định cho giáo viên ở khu vực miền núi. Riêng trong năm học 2017-2018, toàn ngành đã đầu tư xây dựng mới 208 phòng học với tổng kinh phí trên 122 tỉ đồng, sửa chữa 305 công trình lớn nhỏ với tổng kinh phí trên 68 tỉ đồng.

 

Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục

 

Được dự một tiết học do cô Hoàng Thị Nhật Thu, giáo viên Trường Tiểu học thị trấn Krông Klang, huyện Đakrông giảng dạy, chúng tôi mới hiểu thêm rằng đổi mới phương pháp dạy học không cần phải “đao to búa lớn”, mà đơn giản là làm sao cho học trò dễ hiểu, dễ nhớ, nhất là đối với học sinh miền núi. Với 23 năm kinh nghiệm giảng dạy cho học sinh miền núi, ngoài kiến thức chuyên môn, cô hiểu rất rõ về tính cách cũng như tâm tư, tình cảm của học sinh nơi đây. Sáng kiến về phương pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp của cô xuất phát từ nhận thức giáo viên chủ nhiệm lớp ở cấp Tiểu học có vị trí hết sức quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Một trong những vai trò cơ bản của người giáo viên chủ nhiệm lớp là thực hiện tốt mục tiêu giáo dục: Hình thành ở học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để giao tiếp, giúp học sinh tiếp tục học lên các lớp trên. Tuy nhiên trên thực tế, vai trò của một số giáo viên chủ nhiệm lớp vẫn còn mờ nhạt. Nhiều giáo viên chủ nhiệm lớp rất nhiệt tình trong giảng dạy nhưng vẫn chưa tìm ra được những giải pháp mới, sáng tạo, vận dụng vào công tác chủ nhiệm lớp để giáo dục học sinh có hiệu quả. Cách làm của cô Thu là xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, khảo sát tình hình học sinh trong lớp, triển khai kịp thời công tác tổ chức lớp học, giáo dục đạo đức, học tập, lao động, thể chất và giáo dục thẩm mĩ, xây dựng các mối quan hệ trong lớp học cũng như chú trọng phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giúp đỡ các em học sinh tiến bộ về mọi mặt. Nhờ đó, lớp do cô chủ nhiệm luôn duy trì sĩ số 100%, chất lượng học tập cũng như hạnh kiểm của học sinh luôn dẫn đầu trong khối và trong toàn trường. Những thành tích trong quá trình giảng dạy của cô Hoàng Thị Nhật Thu xứng đáng được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen.

 

Cô Thu chia sẻ: “Tôi nghĩ rằng đối với học sinh tiểu học, giáo viên chủ nhiệm vừa là người mẹ, vừa là người thầy và người bạn thân thiết, gần gũi với các em, động viên, yêu thương các em, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn. Quan trọng hơn, giáo viên chủ nhiệm lớp phải là người trực tiếp tạo nên sợi dây để nối các mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội”. Bằng nhiều cách làm khác nhau, những giáo viên như cô Thu đã tiếp nối sự hi sinh thầm lặng của đội ngũ giáo viên đi trước, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo cho học sinh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

 

Mô hình trường học bán trú đã giải quyết tình trạng học sinh vùng sâu bỏ học giữa chừng. Ảnh: TT

 

Kết thúc năm học 2018 - 2019, Trường THCS Khe Sanh (Hướng Hóa) tự hào với thành tích giáo dục mũi nhọn là 39 học sinh đạt giải học sinh giỏi văn hóa cấp huyện, 10 học sinh đạt giải học sinh giỏi văn hóa cấp tỉnh. Hiệu trưởng Trần Văn Hoàng phấn khởi nói: “Để có được chất lượng giáo dục mũi nhọn bền vững qua các năm học, nhà trường đặc biệt chú trọng đến công tác thi đua khen thưởng. Hằng năm, ngoài chính sách khen thưởng của huyện, phòng giáo dục, nhà trường có chính sách tuyên dương, khen thưởng kịp thời cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi và học sinh đạt giải, đối với giáo viên còn ưu tiên đề xuất nâng lương trước thời hạn, không luân chuyển đi vùng bản, ưu tiên xếp danh hiệu thi đua…, tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”. Em Đoàn Thục Quyên, lớp 9A, Trường THCS Khe Sanh, hai năm học liên tiếp (2017 - 2018 và 2018 - 2019) đoạt giải Nhì học sinh giỏi môn tiếng Anh cấp tỉnh bày tỏ: “Tuy điều kiện học tập ở miền núi còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với bộ môn ngoại ngữ, nhưng chúng em may mắn được học với các thầy cô giáo tâm huyết với nghề, tận tình truyền đạt kiến thức, hướng dẫn cho học sinh phương pháp học hiệu quả nhất. Do ít có cơ hội giao lưu, tiếp xúc với người nước ngoài hay tiếp cận các trung tâm dạy tiếng Anh có giáo viên nước ngoài như ở đồng bằng, chúng em khắc phục bằng cách tự học trên internet, nghe nhạc, xem phim…để nâng cao kĩ năng nghe và nói. Mong ước lớn nhất của em là học thật tốt môn tiếng Anh để có cơ hội nhận học bổng du học nước ngoài, mở mang kiến thức”.

 

Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo vùng khó trong thời gian tới, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lê Thị Hương cho biết: “Ngành Giáo dục sẽ tập trung thực hiện các giải pháp như: Tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa ngành, chính quyền địa phương và phụ huynh để tăng tỉ lệ huy động học sinh hằng năm, đặc biệt là học sinh đồng bào dân tộc thiểu số đi học và học hết cấp học; huy động hầu hết học sinh tiểu học là người đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô đến trường, lớp; duy trì phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ. Tiếp tục triển khai thực hiện đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến 2025”. Nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học. Xây dựng môi trường giáo dục thấu hiểu, thân thiện đối với học sinh người dân tộc thiểu số; tập trung huy động các nguồn lực đầu tư và vận động, thu hút sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân để thúc đẩy phát triển giáo dục đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Đồng thời cần tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất trường học ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ giáo viên và học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”.

 

Trên thực tế, cùng với việc đầu tư cơ sở vật chất, chính sách cho giáo viên miền núi ngày càng được Đảng, Nhà nước và địa phương quan tâm đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến về chất và lượng cho giáo dục vùng miền núi. Tuy vậy, để sự học miền núi tiến kịp miền xuôi, trước mắt vẫn là chặng đường khó khăn, vất vả. Chiến lược trọng tâm mà ngành Giáo dục các huyện miền núi tập trung thực hiện trong những năm gần đây là đổi mới công tác quản lí, xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với đối tượng và điều kiện nhà trường, tích cực phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém... cũng như không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo - yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục. Sau 30 năm lập lại tỉnh, sự nghiệp “trồng người” đầy gian nan trên vùng đất khó đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, trong đó nổi bật là đã đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi.

 

(còn nữa)

 

Thanh Trúc - Hoài Hương - Lâm Thanh

Bài 3: Gieo “quả ngọt”, gặt tri thức

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC





Trực tuyến





91786680
Copyright 2020 by BÁO QUẢNG TRỊ
izmir escort bayan izmir escort bayan