“Trồng người” nơi vùng đất khó. Bài 1: Những ngày đầu gian nan


Ngày cập nhật: 29/05/2019 06:26:30

(QT) - 30 năm kể từ ngày lập lại tỉnh, ngành Giáo dục và Đào tạo Quảng Trị không ngừng nỗ lực vượt khó, huy động mọi nguồn lực xã hội tập trung phát triển quy mô trường lớp, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thời kì CNH, HĐH đất nước. Một trong những thành tựu mà ngành đạt được đó là tạo sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng giáo dục đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua nhiều giải pháp, chính sách hợp lí, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bằng.

 

Mang ánh sáng văn hóa đến các bản làng

 

Trở lại tên gọi chính mình, Quảng Trị đối mặt với thực trạng nghèo nàn và lạc hậu, đời sống của người dân gặp rất nhiều khó khăn. Ngành Giáo dục-Đào tạo (GD-ĐT) thời kì đó cũng cùng chung số phận, trong đó thách thức lớn nhất là tỉ lệ mù chữ rất cao. Theo số liệu thống kê, vào năm 1990 toàn tỉnh có 14.500 người mù chữ trong độ tuổi từ 15-35, trong đó huyện Hướng Hóa có 8.094 người, Hải Lăng là 1.650 người, Triệu Phong có 1.717 người. Tỉ lệ huy động vào các trường đạt thấp, tỉ lệ bỏ học chung các cấp là 7,5%.

 

Mặc dù đã nghỉ hưu nhưng thỉnh thoảng cô Phan Thị Pháp (thứ 8 từ phải sang) ghé thăm trường cũ, trò chuyện với các em học sinh. Ảnh: HH

 

Trước thực tế đó, công tác Phổ cập giáo dục tiểu học - Chống mù chữ (PCGDTHCMC) là một nhiệm vụ cấp bách được ngành GD-ĐT đặt ra. Ngành đã tổ chức chiến dịch bằng sức mạnh của cả tỉnh chi viện cho miền núi thực hiện PCGDTH-CMC. Năm học 1993-1994, mặc dù cả tỉnh thiếu gần 500 giáo viên nhưng các phòng giáo dục: Vĩnh Linh, Gio Linh, Đông Hà, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị, Hải Lăng, Cam Lộ đã hăng hái chi viện cho Hướng Hóa xóa mù chữ. Lực lượng nòng cốt là giáo viên được điều động từ biên chế ở các trường học. Để đảm bảo đủ số lượng giáo viên chi viện, các phòng giáo dục còn vận động giáo viên nghỉ hưu, về mất sức theo Quyết định 176 nhưng còn sức khỏe tham gia chiến dịch, về tận các bản làng xa xôi để mang ánh sáng văn hóa đến với người dân. Ngoài ra, với gần 2.000 cán bộ và giáo viên công tác ở 63 đơn vị trường học của 39 xã miền núi trên địa bàn là lực lượng quyết định cho PCGDTH-CMC thành công. Ông Trương Sĩ Tiến, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nguyên Giám đốc Sở GD-ĐT từ năm 1989-1994, cho biết: Hướng phát triển của giáo dục Quảng Trị thời kì lập lại tỉnh là nhanh nhưng phải vững chắc. Cụ thể là xây dựng một nền tảng phổ cập vững chắc nhưng đồng thời phải nhanh chóng hình thành những mũi nhọn tiên phong. Để thực hiện ngay việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số, ngành GD-ĐT đã huy động tối đa nguồn lực tại chỗ, phát huy sức mạnh toàn ngành bằng các hoạt động kết nghĩa giữa các huyện đồng bằng với miền núi; hỗ trợ sách vở, điều giáo viên lên miền núi tăng cường cho công tác PCGDTH-CMC. Mặc dù khó khăn là vậy nhưng nhiều giáo viên thời kì đó rất tâm huyết với nghề, chịu cực khổ, vất vả để hoàn thành nhiệm vụ mà ngành giao phó. Đây là điều rất đáng ghi nhận.

 

Phòng giáo dục các huyện miền núi bên cạnh sự chi viện của đồng bằng cũng có những cách làm riêng để góp phần đẩy nhanh tiến độ PCGDTH-CMC ở địa phương mình. Ông Hồ Xuân Phúc, Trưởng Phòng Văn hóa thông tin huyện Hướng Hóa (nguyên Trưởng Phòng GD- ĐT huyện Hướng Hóa) cho biết: Năm 1990, Phòng GD-ĐT huyện đã xây dựng đề án phát triển giáo dục Hướng Hóa đến năm 2000 với các mục tiêu cơ bản như: Từ 1990-1995 nâng dần tỉ lệ học sinh lớp 5 là người dân tộc để làm nguồn cho trường dân tộc nội trú tỉnh và huyện; phấn đấu năm 1990 đạt chỉ tiêu xóa mù chữ cho 1.500 người, năm tiếp theo là 500-1.000 người, mỗi năm có 2 xã được công nhận PCGDTH-CMC, đến năm 1995 vùng kinh tế mới và một vài xã vùng bản được công nhận PCGDTH-CMC.

 

Để đạt được kết quả, ngành GD-ĐT huyện xác định trước hết phải làm tốt công tác tuyên truyền vận động, phải cùng ăn, cùng ở để thấu hiểu tâm tư nguyện vọng cũng như tập tục của người dân tộc thiểu số. Là một người gắn bó với công tác giáo dục của huyện miền núi Hướng Hóa thời kì mới lập lại tỉnh, ông Trần Minh Thái, Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Đakrông tâm sự: Công cuộc PCGDTH-CMC được cấp ủy và chính quyền địa phương rất quan tâm. Huyện thành lập ban chỉ đạo PCGDTHCMC do đồng chí phó chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban; một xã có 5-7 giáo viên tăng cường trong hè, rút 3-5 giáo viên tại chỗ làm công tác PCGDTH-CMC. Sau khi xã này được công nhận thì tăng cường cho các xã khác gặp khó khăn hơn. Nhờ đó, những lớp PCGDTH-CMC mở ra nhiều nơi, tỉ lệ người theo học ngày càng nhiều.

 

Năm 1996, PCGDTH-CMC ở Quảng Trị về đích trước 4 năm so với kế hoạch chung của Ủy ban quốc gia Chống nạn mù chữ, là tỉnh thứ 18 trong toàn quốc hoàn thành chương trình này. Từ đây, công cuộc phổ cập giáo dục THCS được triển khai với nhiệm vụ nặng nề, khó khăn không kém. Sở GD-ĐT tham mưu Tỉnh ủy ra Chỉ thị 14/CT-TU ngày 24/6/2002; tham mưu UBND tỉnh ra Chỉ thị số 1372/KH-UB ngày 15/8/2002 về kế hoạch thực hiện phổ cập THCS. 13/14 xã của huyện Đakrông thuộc diện đặc biệt khó khăn, 3 xã miền núi của huyện Vĩnh Linh và 2 xã miền núi của huyện Gio Linh được ưu tiên làm điểm nhưng phải quan tâm tới diện rộng để có cách làm hiệu quả, bền vững. Đến năm 2005, tỉ lệ đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS đạt tỉ lệ 97,8%. Việc hoàn thành các chương trình phổ cập GDTH, THCS và chống mù chữ trong điều kiện hết sức khó khăn là kết quả của quá trình phấn đấu bền bỉ của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân trên địa bàn; sự khắc phục khó khăn, kiên cường bám trường, bám lớp của các thầy cô giáo mà lực lượng xung kích là cán bộ, giáo viên miền núi; sự giúp đỡ của cán bộ, chiến sĩ các Đồn Biên phòng trên địa bàn và chi viện sức người, sức của của các huyện, thị xã đồng bằng trong tỉnh.

 

Những hi sinh thầm lặng

 

Hơn 30 năm trôi qua nhưng cô giáo Phan Thị Pháp (SN 1962), giáo viên Trường Tiểu học số 1 Đakrông (đã nghỉ hưu) vẫn không quên ngày đầu tiên đặt chân lên huyện Hướng Hóa nhận công tác. Người con gái của đất Đồng Hới, Quảng Bình vốn sinh ra và lớn lên ở thị xã, nhưng nhiệt huyết tuổi trẻ với những khát khao được cống hiến thúc giục cô đặt chân đến vùng đất mà trong lời kể của nhiều người luôn bắt đầu bằng các từ “cực lắm, khổ lắm”. Từ suy nghĩ đi cho biết, vài năm rồi quay về, vậy mà chớp mắt đã hơn 30 năm cô gắn bó với nơi này, lấy một người đàn ông Vân Kiều làm chồng và chọn bản Khe Ngài, xã Đakrông, huyện Đakrông làm nơi an cư.

 

Hoạt động thu gom rác thải của học sinh Trường Tiểu học và THCS Hướng ViệtẢnh do nhà trường cung cấp

 

Dựng trường, mở lớp là nhiệm vụ đầu tiên mà cô giáo Pháp cùng các đồng nghiệp làm trước khi dạy chữ. Trong suốt 25 năm công tác của mình, cô được điều động đến nhiều, điểm trường khác nhau của xã Đakrông như Khe Ngài, Ba Ngào, Vùng Kho... Nơi nào không có lớp thì mở lớp, nơi nào không có học sinh thì vận động học sinh, rồi giúp dân bản định canh định cư, xóa bỏ hủ tục. Đến nay, cô không còn nhớ có bao nhiêu ngôi trường tranh tre, nứa lá ngày đó được chính bàn tay các thầy, cô giáo dựng lên để giúp các em học sinh có chỗ ngồi học ổn định, che nắng che mưa. Thời kì PCGDTH-CMC, ban ngày cô Pháp dạy tiểu học, mỗi lớp khoảng 15-20 em; đêm giáo viên chia làm hai kíp, một kíp dạy người lớn, kíp còn lại dạy học sinh quá tuổi. Dạy ban đêm vốn vất vả nhưng không phải lúc nào cũng có học sinh đầy đủ. Mùa rẫy, người dân lên nương về muộn nên giáo viên phải đợi, hoặc chia nhau đến từng nhà để gọi học sinh. Cô Pháp nhớ lại: “Tuổi còn trẻ, lại sinh ra và lớn lên ở đồng bằng, vậy nhưng chúng tôi đã vượt qua sợ hãi của đêm tối và vực sâu ngay dưới lối đi của mình để đến từng nhà gọi cho đến khi nào đủ người mới dạy. Thời gian đó hầu như giáo viên chúng tôi không có thời gian nghỉ ngơi hay nghĩ đến chuyện riêng tư khác, mọi cái đều cuốn vào công việc một cách say mê”.

 

Nhiều lần, cô Pháp đặt mình vào sự lựa chọn giữa đi hay ở. Ba mẹ năm lần bảy lượt giục con về, khi chứng kiến cuộc sống vất vả của con gái nơi rừng sâu nước độc. Gia đình chồng thì buộc cô phải lựa chọn hoặc là nghỉ dạy, hoặc là đừng bao giờ bước chân vào nhà họ khi chứng kiến cô trải qua một cơn đau thập tử nhất sinh. Vậy nhưng, ơn nghĩa với người đồng bào khiến cô không nỡ về đồng bằng và bỏ công việc mà mình gắn bó. Đó là lần cô sốt rét gần chết, dân bản thay nhau cõng cô ra đường, chặn xe chở đá đưa cô đến bệnh viện; đó là lần qua sông Đakrông dạy học, bị lật đò chới với giữa dòng nước dữ, cô cũng được dân bản cứu vớt. Một kỉ niệm khiến cô nhớ mãi đó là trong một lần lên lớp, học sinh của cô vì nhà quá nghèo, không đủ áo quần để mang đi học nên dùng giấy quây lại thành cái khố để đến trường. Bị các bạn cùng lớp trêu chọc, học sinh đó xấu hổ nên đánh bạn, cô giáo vào can ngăn cũng bị đánh luôn. Khi bình tĩnh lại, học sinh đó đã gặp cô xin lỗi và nói lí do vì quá muốn đi học mà không còn cách nào khác ngoài quấn giấy làm khố. Câu chuyện về cậu học sinh nghèo khiến cô cứ ám ảnh mãi. Tháng lương đó, cô đã dành tiền để mua vải về cắt may quần đùi tặng cho các em học sinh khó khăn trong lớp.

 

Không chỉ cô Pháp, nhiều giáo viên thời kì đó ở miền núi đều hi sinh thầm lặng để hoàn thành nhiệm vụ mà ngành giao phó, thậm chí có người đánh đổi bằng tính mạng của mình. Thầy giáo Đoàn Văn Phong là giáo viên thị xã Đông Hà lên chi viện cho giáo dục Hướng Hóa. Thầy dạy ở điểm trường Chân Rò, xã Đakrông. Hôm đó, khi trên đường đến lớp dạy học, qua sông Đakrông thì bị lật đò. Sự hi sinh của thầy khiến đồng nghiệp và nhiều người xót thương. Vậy nhưng đó cũng chỉ là một rủi ro trong hàng trăm rủi ro khác mà giáo viên miền núi phải gánh chịu…

 

Anh Lê Thanh Hải, Trưởng Phòng Giáo dục huyện Vĩnh Linh, nhớ lại: “Năm 1990, thực hiện chủ trương xóa mù của ngành GD - ĐT, tôi cùng 5 đồng nghiệp khác nhận quyết định lên xã Vĩnh Ô, một xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Vĩnh Linh. Từ thị trấn Bến Quan, chúng tôi gùi ba lô đi theo đường mòn đúng một ngày đường mới tới Vĩnh Ô. Chúng tôi ăn ngủ, sinh hoạt cùng với các nhà dân trong thôn bản... Thời điểm đó đồng lương giáo viên thấp, đời sống của người dân còn vất vả hơn nhưng khi mùa về, thấy giáo viên ăn cơm độn sắn nhiều quá, bà con mang cho gạo, cho rau...Đi lại khó khăn, công việc thì vất vả khiến tôi nghĩ đến chuyện bỏ nghề nhưng nghĩ đến tình cảm của người dân, lại thương học trò rất thích được học chữ, nhiều em đúp lại 2 năm vẫn học (có năm học sinh lớp 1 lên lớp ít quá không đủ lớp, đành ở lại cả lớp)... mà gắn bó với công việc của giáo viên cắm bản 3 năm. Nhớ nhất là lần tôi bị sốt rét dài ngày, tưởng chừng không qua được nên có nguyện vọng được đưa về nhà. Học sinh và giáo viên trong trường thay nhau võng tôi về. Đường đá cheo leo, trơn trượt nên rớt võng vài lần, vậy mà cuối cùng tôi vẫn về được đến nhà. Điều khiến tôi thấy ấm áp mà nhiều học sinh của tôi thời kì đó nay là cán bộ chủ chốt của xã”...

 

Cũng bởi lí do yêu mến dân bản đã cưu mang giúp đỡ mình và những học sinh luôn khát khao được học chữ mà thầy giáo Trương Công Sơn (SN 1976) sau khi hết thời gian xóa mù đã viết đơn tình nguyện giảng dạy lâu dài tại xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa. Tháng 6/1997, sau khi tốt nghiệp, thầy Sơn được phân công dạy xóa mù tại Hướng Lập, phụ trách xóa mù chữ bản Tà Păng, sau đó điều về dạy xóa mù tại Cù Bai. Địa bàn xã Hướng Lập có 12 bản bao gồm cả bản Tà Rùng, Trăng của Hướng Việt hiện nay. Những ngày dạy xóa mù chữ ở Cù Bai, ban đêm dạy lớp xóa mù theo kế hoạch, ban ngày thầy dành thời gian mở thêm một lớp dạy chữ cho các trẻ em gái 12-15 tuổi không được đi học. Phòng học của thầy và trò chỉ là mái tranh, vách nứa, mùa đông thì gió rét lùa vào như cắt da cắt thịt, tay lạnh cóng không thể viết được; mùa hè thì nắng rát bỏng người. Ánh sáng thì chỉ dùng đèn thắp bằng dầu, sau một đêm soạn bài, sáng ra mặt ai cũng nhọ nhem khói dầu. Hơn 20 năm theo nghề giáo, đến tận bây giờ nhiều người vẫn hỏi thầy một câu hỏi cũ: Tại sao lại gắn bó với một nơi “thâm sơn cùng cốc” như vậy trong khi vẫn có cơ hội để thay đổi?.

 

Có rất nhiều lí do để các cô thầy giáo gắn bó với nghề, gắn bó với bản làng nơi mình công tác. Với họ, cho dù tuổi thanh xuân tươi đẹp gắn bó với vùng rừng sâu nước độc, phải chịu nhiều thiệt thòi vất vả nhưng được cống hiến, được hi sinh để mang con chữ đến cho con em người đồng bào dân tộc thiểu số là niềm hạnh phúc trong cuộc đời. Những hi sinh ngày ấy của biết bao giáo viên miền núi nay đã được đền đáp.

 

(còn nữa)

Hoài Hương-Thanh Trúc -Lâm Thanh

Bài 2: Từ “bản trắng” giáo dục đến trường chuẩn, trò ngoan

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC





Trực tuyến





91781850
Copyright 2020 by BÁO QUẢNG TRỊ
izmir escort bayan izmir escort bayan