Kí ức còn mãi


Ngày cập nhật: 03/02/2019 12:55:24

(QT) - “Vĩ tuyến 17 - Chiến tranh nhân dân” là bộ phim của nhà làm phim tài liệu nổi tiếng Joris Ivens (người Hà Lan) nhận được những giải thưởng quốc tế lớn, góp thêm một tiếng nói giúp thế giới biết đến và ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Hơn năm mươi năm trôi qua, nhưng đối với bà Nguyễn Thị Xuân Phượng, người cộng sự của Joris Ivens trong những năm ông làm bộ phim tại Vĩnh Linh, Quảng Trị, những kỉ niệm vẫn chưa bao giờ nguôi.

 

Bà Xuân Phượng năm 90 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh​

 

Một ngày tháng 2 năm 1967, bà Xuân Phượng được gọi lên Phủ Chủ tịch nhận lệnh Bác Hồ. Bà nhớ lại, khi xe vừa đến sân đã thấy giám đốc các xưởng phim: Tài liệu thời sự Trung ương, Phim truyện Việt Nam, Quân đội Việt Nam, Giao thông vận tải chờ sẵn đó. Sau phần giới thiệu thân mật của Bác Hồ, ông bà Ivens tươi cười quay lại bắt tay những người cộng sự của Việt Nam. Buổi gặp gỡ đầu tiên ấy đã mở đầu cho hành trình làm bộ phim “Vĩ tuyến 17 - Chiến tranh nhân dân”.

 

Bắt đầu những ngày hành trình về vùng giới tuyến ác liệt để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, đối với một người con gái vốn xuất thân trong một gia đình hoàng tộc Huế như bà Xuân Phượng, dù 16 tuổi đầu đã can đảm từ bỏ cuộc sống hoàng cung để đi theo cách mạng, thì đây vẫn là chặng đường không ít thử thách. Kể thêm một chút về người con gái quả cảm này, năm 1954, bà được cử đi học y sĩ cao cấp, sau khi kết thúc khóa học, bà vừa làm bác sĩ, vừa làm phiên dịch cho Ủy ban Liên lạc văn hóa với nước ngoài (Bộ Ngoại giao). Nhờ đó mà bà được tiếp xúc nhiều với các nguyên thủ quốc gia và các nhà báo nước ngoài.

 

Ngày 25/4/1967, ba chiếc xe chỉ huy rời Hà Nội với một đoàn gồm 11 người tiến về Vĩnh Linh, cách Hà Nội hơn 500 km về phía Nam, bắt đầu cuộc hành trình sản xuất bộ phim “Vĩ tuyến 17 - Chiến tranh nhân dân”. Giờ nhớ lại, bà Xuân Phượng vẫn còn mường tượng rất rõ những gian khổ của hành trình đó, như thể nhắm mắt lại là thấy bom nổ trên đầu và vết thương cũ vẫn còn nhức nhối mỗi khi trái gió trở trời. Sau này, khi mọi người ngồi trong lòng địa đạo Vĩnh Linh, ai nấy cứ ngỡ như mơ, không hiểu bằng cách nào mình còn nguyên vẹn để đến được nơi này. Nhiệm vụ mới chớm bắt đầu và vẫn còn nhiều lần đoàn làm phim đương đầu với hiểm nguy còn hơn như vậy.

 

Quay phim ở cột cờ Vĩnh Linh

 

Cảnh quay cột cờ Vĩnh Linh vô cùng quan trọng và ý nghĩa đối với bộ phim, do vậy từ nhiều ngày trước đó, ông Ivens với bộ quần áo đen của du kích Vĩnh Linh, đầu quấn khăn rằn che mái tóc bạc trắng đã nằm phục dưới hào, quan sát rất kĩ tình hình. Bên bờ Nam cầu Hiền Lương, lính của chính quyền Sài Gòn canh gác cẩn mật, súng ống lăm le chĩa về phía bờ Bắc, nơi có cột cờ với lá cờ đỏ sao vàng rộng hơn một trăm ba mươi tư mét vuông ngày đêm hứng chịu những đợt bắn phá thả bom liên hồi. Ông Ivens phân công nhiệm vụ cho hai kíp: “Kíp một là Phượng đi cùng với tôi, Tuấn quay phim, Hùng bảo vệ. Kíp hai là Hạc đi cùng với Marceline, Bình và Chơn quay phim kiêm bảo vệ. Nếu kíp một bị bom, hay bị thương phải rút đi thì kíp hai chạy lên thay thế ngay”. Ông còn dặn thêm: “Tuấn ơi, đây là một biểu tượng cho phim. Lá cờ Việt Nam sẽ tung bay từ bờ Bắc lan ra bờ Nam, là ý nguyện thống nhất hai bờ của một đất nước. Anh phải trèo lên tận đỉnh cột cờ, máy quay phải bắt được giây phút gió thổi tung lá cờ, bóng trải dài vươn lên phía Nam bờ Bến Hải. Tôi nghĩ rằng đấy sẽ là cảnh mở đầu cho phim”. Khi nghe bà Xuân Phượng phiên dịch lại, những người còn lại đều cảm thấy nhiệm vụ thực sự quan trọng và cũng ý thức được không ít hiểm nguy đang chờ mình.

 

Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng tại Hội thảo quốc tế “Joris Ivens và chiến tranh Việt Nam - Nhìn lại lịch sử cho một tương lai tốt đẹp hơn”​

 

Trời chưa sáng tỏ, bốn người trong kíp đã đến sát cột cờ. Dân quân Vĩnh Linh đã đào sẵn bốn hầm nhỏ tránh bom. Bên kia bờ Nam, cửa sổ bốt canh mở toang, ba bốn cảnh sát rảo quanh, súng lăm le chĩa về phía cột cờ. “Tuấn đã leo đến đỉnh cột cờ. Anh hơi nhô người ra, phục một cơn gió. Trời vẫn lặng yên. Bên này hầm, cả ba chúng tôi nín thở chờ đợi. Một cơn gió nhẹ, Tuấn bắt đầu quay. Hai phút, rồi ba phút, Ivens nói với tôi: “Được rồi, bảo Tuấn rút”, nhưng Tuấn xua tay, lại nhô ra quay tiếp. Bỗng tiếng máy bay ào đến. Tôi nghe một tiếng động mạnh rồi khi tỉnh dậy thấy cả người mình đầy đất, đất ở mắt, ở mũi, ở tai và cả người đau như vừa bị ai đánh”. Kí ức như thước phim quay chậm trước mắt bà Xuân Phượng, rõ mồn một từng chi tiết.

 

Thật quá may mắn là không một ai bị thương. “Đêm ấy, trong địa đạo Tuấn kể, lúc đầu thì sợ lạnh cả gáy, nhất là thấy rõ cảnh sát mặc rằn ri rõ mồn một, súng lăm lăm nhả đạn. Nhưng lên đỉnh cột cờ rồi, quay được những cảnh uốn lượn của lá cờ vươn sang bờ Nam, bao nhiêu sợ hãi tan biến. Lại tranh thủ quay thêm được vài cảnh bờ Nam quá đẹp”. Còn tôi, tôi nhìn thấy trong giọng kể của bà Phượng lấp lánh niềm tự hào của những người từng vào sinh ra tử, cận kề cái chết vẫn bất chấp hiểm nguy để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

 

Cháu bé chào đời trong lòng đất

 

Mỗi khi nhớ lại câu chuyện này, bà Xuân Phượng lại đau đáu một nỗi niềm muốn tìm được cậu bé có tên được đặt từ chính cái tên của mình, Nguyễn Xuân Phượng, người được bà trực tiếp hỗ trợ chào đời trong lòng địa đạo Vĩnh Linh. Hơn bốn mươi năm trôi qua, rất nhiều lần bà cất công hỏi thăm về người đàn ông giờ đã ngoài năm mươi tuổi này nhưng vẫn không có tin tức. “Một đêm trong địa đạo, chúng tôi ai nấy chìm vào những giấc ngủ mê mệt sau một ngày chịu đựng bom đạn. Bỗng có tiếng hét to: “Có ai là bác sĩ ở đây không? Cứu với, cứu với!”. Marceline (vợ của Ivens) lay tôi dậy, bóng người đàn ông cầm một ngọn đèn dầu leo lắt ánh sáng, giọng Vĩnh Linh nghẹn ngào: “Đoàn ơi! Cứu chúng tôi với! Vợ tôi đau đẻ đã hai ngày nay. Chắc là sắp đi rồi”, rồi bật lên tiếng khóc rất to. Tôi và Chơn, phó thu thanh của đoàn, dò dẫm theo bước chân ông ta. Địa đạo Vĩnh Linh chằng chịt hào ngang hào dọc, hầm nối tiếp hầm, thực là lạc vào một mê cung trong lòng đất. Tiếng rên khe khẽ rõ dần, bóng tối vẫn mịt mùng vây quanh. Tôi lấy tay sờ. Một phụ nữ đang nằm, bụng căng cứng, người lạnh ngắt, lố nhố bóng nhiều người sau lưng tôi. Để lấy không khí thở cho người sắp đẻ, tôi hét lên: “Nấu cho tôi một nồi nước”. Mọi người tản ra. Tôi bắt đầu dặn: “Chị nín thở rồi rặn thật mạnh”. “Trời ơi đau lắm, không rặn được”. Thì ra đây là lần sinh nở đầu tiên, chị đẻ con so nên không biết cách. Tôi kiên trì khuyên nhủ, nhưng thực ra là tiếng hét của tôi lẫn vào tiếng khóc của người đàn bà đang đau đớn kia. Đến khi áo tôi ướt đẫm mồ hôi, gần đuối sức thì cũng là lúc đầu em bé nhô ra. Một tiếng oe oe đầu tiên òa lên. Người chồng bỗng khóc thật to. Đúng là một hợp ca hạnh phúc của hai bố con trong địa đạo”. Có lẽ đây là ca đỡ đẻ đặc biệt và duy nhất trong tâm trạng đầy bấn loạn của bác sĩ Nguyễn Thị Xuân Phượng, trong điều kiện không đèn, không phương tiện cấp cứu, không nhìn rõ mặt sản phụ mà suốt cả cuộc đời, bà vẫn không thể quên. Một đồng nghiệp đã kịp bật máy ghi âm tất cả những âm thanh hỗn độn ấy. Trong căn hầm của đoàn làm phim, mọi người đã tỉnh dậy, quây quần bên chiếc máy ghi âm nhỏ. Joris Ivens đặt tay lên vai bà Phượng, nói: “Các bạn hiểu tại sao tôi yêu suốt đời cái nghề làm phim chiến trường không? Giữa cái chết và cái sống, chúng ta có hạnh phúc, có may mắn ghi được sự sống ngay cả trong lòng đất, ngay cả khi cái chết cận kề”.

 

Em bé gan dạ

 

Một buổi sáng đang đi tìm những cảnh quay, đoàn làm phim bắt gặp dưới một bụi tre um tùm có một em bé đang ngồi với mấy anh bộ đội, trên đầu một chiếc xe tải. Em có dáng người đậm, chắc, da nâu đen, đang say sưa tháo lắp thành thạo một khẩu súng AK. Một trường đoạn dài được ông Ivens ra hiệu cho quay phim lặng lẽ ghi hình. Đó là cậu bé Phạm Công Đức, rất dõng dạc và tự tin khi được hướng dẫn nhìn vào máy quay và nói: “Cháu tên là Phạm Công Đức, gia đình cháu ở bờ Nam. Các chú bộ đội muốn phá sân bay trực thăng, cháu liền cùng với hai bạn khác đi vào khu vực sân bay và giả đò chơi trò đánh khăng. Thân của cây khăng dài đúng một mét, bọn cháu đánh ra xa rồi đo, đo từ đầu sân bay đến cuối sân bay, cả chiều dọc lẫn chiều ngang rồi về báo với các chú bộ đội. Bọn Mỹ không nghi ngờ chi hết. Sau đó, các chú bộ đội tính toán và bắn pháo cối vào chính xác, phá nát sân bay. Cháu được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ”.

 

Năm 2007, bà Xuân Phượng trở lại làm bộ phim về Vĩnh Linh, bà đã cất công tìm kiếm cậu bé Phạm Công Đức. Sau rất nhiều ngày hỏi tìm không tin tức, thật tình cờ một cộng sự quay phim của Đài Truyền hình Quảng Trị đã giúp bà Phượng tìm ra cậu bé Đức, chính là thầy giáo thời cấp ba của người này. Một cuộc hội ngộ cảm động giữa Đức và bà Phượng, tưởng chừng như chưa phải gần nửa thế kỉ đã trôi qua... “Năm 2012, tôi sang Paris, đến thăm Marceline và đưa gói quà của Đức tặng ông bà là tiêu đen nổi tiếng của Vĩnh Linh hái từ khu vườn của các cháu. Marceline ôm gói tiêu vào lòng, rưng rưng: “Cảm ơn cuộc đời. Mừng cho bé Đức”. Chúng tôi gói một gói nhỏ hạt tiêu và đặt trên mộ Ivens. Tôi thì thầm kể chuyện cháu Phạm Công Đức với ông”, bà Phượng rưng rưng.

 

Tháng 11/2018, khi Viện phim tổ chức Hội thảo quốc tế “Joris Ivens và chiến tranh Việt Nam - Nhìn lại lịch sử cho một tương lai tốt đẹp hơn”, chính bà Xuân Phượng đã kết nối để ông Phạm Công Đức, một nhân chứng quan trọng trong bộ phim được trực tiếp đến hội thảo để giao lưu, gặp gỡ, chia sẻ câu chuyện của mấy mươi năm trước.

 

Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng năm nay đã 90 tuổi, ở vào tuổi xưa nay hiếm, bà vẫn giữ được phong thái nhanh nhẹn, trí nhớ minh mẫn, sắc sảo hiếm có, giọng nói vẫn vang và ấm. Không còn ở tuổi thanh xuân, bà Phượng vẫn lạc quan rằng mình vẫn ước mơ đủ sức khỏe để một ngày nào đó được sang Pháp cùng những người còn lại của đoàn làm phim “Vĩ tuyến 17- Chiến tranh nhân dân” và những nhân vật có mặt trong bộ phim này, nếu còn sống và tìm ra được như Đức, Phượng và em bé sinh ra dưới địa đạo năm nào.

 

Kết thúc buổi nói chuyện, bà Xuân Phượng vẫn day dứt một nỗi thương nhớ mảnh đất Vĩnh Linh: “Tôi nhớ những em thanh niên xung phong không hề biết tên tuổi, đã không run tay rút từng mảnh kính vỡ ra khỏi khuôn mặt đầy máu của tôi dưới ánh sáng xanh lục của bom đạn, nhớ những lúc cùng Joris Ivens và Marceline ngồi quây quần bên nhau với mười một anh em trong đoàn, chia nhau bát nước chè xanh, nhớ vườn tiêu đầy ánh nắng của cháu Đức, từ nay tự do trĩu hạt dưới ánh mặt trời…”.

 

Thanh Trúc

 

.............

-Ảnh do nhân vật cung cấp

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ