Những “người đưa đò” miền sơn cước


Ngày cập nhật: 29/12/2018 07:10:07

(QT) - Giữa miền rẻo cao heo hút và khó khăn bậc nhất tỉnh Quảng Trị, có những thầy cô giáo đang từng ngày dốc bầu nhiệt huyết bám lớp bám trường thực hiện sứ mệnh “trồng người”. Họ như những người đưa đò thầm lặng, chắp cánh ước mơ tươi sáng cho con em bản làng…

 

Cô giáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn dạy lớp ghép 1-2 ở bản Trỉa, xã Hướng Sơn

 

Gian nan “trồng người” ở… Mít, Cát, Trĩa!

 

“Chưa đến bản Mít xem như chưa đến Vĩnh Ô; chưa đến Hướng Sơn xem như chưa đi Hướng Hóa, chưa đến Cát, Trỉa như chưa đến Hướng Sơn”, những giáo viên thâm niên cắm bản ở miền rừng núi Quảng Trị thường truyền nhau câu nói như vậy.

 

Những ngày cuối năm, tôi có dịp đặt chân đến thăm những giáo viên cắm bản ở những địa danh được xem là xa ngái, vất vả bậc nhất miền rẻo cao Quảng Trị như: Bản Mít (xã Vĩnh Ô, huyện Vĩnh Linh) và bản Cát, Trỉa (xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa). Tôi theo cô giáo Trần Thị Hồng Thắm, Hiệu trưởng Trường Mầm non Vĩnh Ô đến thăm điểm trường lẻ Mầm non và Tiểu học bản Mít, nơi cách xa trung tâm xã đến 17 km đường rừng. Sau một đoạn đường đi nhờ xe Ural 3 cầu, quãng còn lại chúng tôi đành đi bộ xuyên rừng với rất nhiều núi cao và những con suối đầy đá trơn trượt. Sau khoảng 3 giờ ròng rã, chúng tôi đặt chân đến được điểm trường heo hút này. Khi chúng tôi đến, các thầy cô giáo ở đây vẫn đang dở tiết học. Cô Thắm cho biết, điểm trường mầm non bản Mít có 19 cháu, Tiểu học 22 cháu và cắm bản ở đây có 1 thầy giáo, 3 cô giáo và 1 cô cấp dưỡng. Ngoài các thầy cô giáo cấp Tiểu học khác đã có khu nhà tạm để ở thì do thiếu chỗ ở nên cô giáo Hồ Thị Miên, giáo viên mầm non duy nhất ở đây sau mỗi giờ học phải ở ngay tại lớp học. Cô Miên năm nay 36 tuổi nhưng đã có thâm niên hơn 15 năm cắm bản ở Vĩnh Ô. “Mấy năm trước mình dạy ở ngoài gần trung tâm xã, hơn 1 năm nay mình chuyển vào đây. Do đường xa xôi, đi lại quá khó nên cũng như các thầy cô giáo khác, cuối tuần mình ra nhà thăm chồng con đến đầu tuần trở vào lại. Nói về khó khăn, vất vả thì hầu như ai ở đây cũng như nhau. Nhưng không vì thế mà chùn bước, mình và các giáo viên khác đều luôn nỗ lực hết sức để dạy các em chăm ngoan, học hành đàng hoàng”, cô Miên tâm sự. Thầy giáo Hồ Văn Dương, cũng có thâm niên 13 năm bám bản “trồng người” ở khắp các bản làng khó khăn của tỉnh. Trước khi về dạy điểm trường lẻ Tiểu học ở bản Mít, từ năm 2005- 2012 thầy Dương gắn bó với các điểm trường ở Kỳ Nơi, Ba Lin (xã A Vao, huyện Đkrông). Nhiều năm gắn bó ở bản Mít, thầy Dương nói rằng nỗi e ngại lớn nhất là vào mùa mưa lũ. “Ở đây địa hình có đến hàng chục con suối sâu với đá lởm chởm. Mùa mưa, nước trên núi ào ạt đổ về khiến các suối ngập sâu, chảy rất xiết nên không thể nào qua được. Những lúc ấy chỉ có việc cấp bách lắm chúng tôi mới về, nhưng phải men theo sườn núi, cắt rừng với quãng đường xa gấp mấy lần mới về được. Ở đây lâu nên cũng thấy quen rồi”, thầy Dương kể. Khó khăn là vậy, nhưng những giáo viên nơi đây chưa bao giờ nản chí mà luôn động viên nhau khắc phục khó khăn để mang ánh sáng tri thức cho học trò vốn thiệt thòi nơi này.

 

Cô Hồ Thị Miên và Hồ Thị Ba ở bản Mít, xã Vĩnh Ô chuẩn bị bữa cơm trưa

 

Về vị trí địa lí, theo đường chim bay, các bản Cát, Trỉa vốn chẳng cách xa so với bản Mít là mấy. Nhưng để đến được các bản này, chúng tôi phải ngược lên huyện Hướng Hóa, đi vào tận trung tâm xã Hướng Sơn rồi nhờ những người bản địa thông thạo đường rừng chở xe máy vượt thêm hơn 30 km nữa mới tiếp cận được. Đón chúng tôi ở điểm trường Tiểu học Trỉa là 2 cô giáo trẻ Lê Thị Nhung (27 tuổi) và cô Nguyễn Thị Thanh Nhàn (25 tuổi). Cả hai cô đều chưa lập gia đình. Cô Nhung quê ở xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong đã có 5 năm dạy ở Hướng Sơn, hiện đang dạy lớp ghép gồm lớp 3 và lớp 4. Cô kể những ngày đầu được phân vào dạy ở Trỉa cứ khóc rưng rức vì quá buồn và nhớ nhà… “Trước đây em dạy ở trung tâm xã cũng đã vất vả lắm rồi nhưng vào đây mới biết sự gian truân còn gấp nhiều lần. Đường quá khó nên mỗi lần vào ra trung tâm xã, chúng em thường nhờ các giáo viên nam chở mới dám đi. Mùa nắng ráo thì cuối tuần em đi xe nhờ ra trung tâm xã, sau đó tự chạy xe máy về nhà ở Triệu Trạch, cuối tuần lên lại. Đến giờ thì em cũng quen với đường sá trắc trở và tự nhủ phải cố gắng vượt khó, tất cả vì tương lai các em”, Nhung nói. Cô Nhàn quê ở thị trấn Khe Sanh cũng có hành trình như Nhung. “Nghe kể nhiều về điểm trường Trỉa, Cát nhưng ban đầu bọn em không thể tưởng tượng nó khó đến vậy. Đường vào nguyên sơ như đường rừng, bên núi cao bên vực sâu thẳm… Có lẽ trong đời giáo viên, với em nơi này chắn chắn khó khăn, gian khổ nhất và không thể nào quên được”, Nhàn nói thêm.

 

Vượt khó thắp ước mơ con chữ

 

Sau tiết dạy buổi sáng, tại điểm trường bản Mít, cô Miên và cô giáo Tiểu học Hồ Thị Ba lúi húi nhen lửa chuẩn bị bữa cơm trưa. Mớ củi bị ướt vì mưa nên sau hơn nửa giờ lửa mới bén nhưng gian bếp đơn sơ vẫn bốc khói mù. Cô Miên bảo rằng, dạy vất vả nhưng bù lại được bà con dân bản quý mến, khi thì cho gạo, măng rừng, củi nên cảm thấy ấm lòng. Sau bữa cơm vội vã, như thường lệ cô Miên ra phía tán cây xanh- nơi treo chiếc điện thoại “cục gạch” chung của các giáo viên nơi đây để “hứng” sóng, nghe điện thoại của gia đình. Cô nói: “Cứ có cái điện thoại vậy mấy chị em dùng chung, thay nhau nghe gọi. Sóng điện thoại ở đây chập chờn lắm, chỉ ở vị trí cây cao đó mới thường có sóng nhưng cũng lúc được lúc không. Có khi cần kíp việc điện về nhà phải leo lên cây cao tít mới bắt sóng được”, chỉ lên cành cây treo lủng lẳng chiếc điện thoại trắng đen, cô Miên cười. Theo những giáo viên nơi đây, điện mới có cách đây chừng 1 năm nhưng nhiều lúc cũng yếu nên khá khó khăn khi dùng các thiết bị điện. Nhưng theo họ dù sao cũng sướng gấp nhiều lần so với cảnh đèn dầu leo lét trước đây. Nước sinh hoạt thì dùng chung nước tự chảy của bà con, thức ăn thì mua theo tuần nhưng cũng chủ yếu là cá khô, mắm muối, rau rừng và lâu lắm mới có bữa thịt, cá tươi…

 

Đối mặt với bao khó khăn, vất vả, giáo viên ở bản Mít vẫn luôn hết lòng vì học trò

 

Thiệt thòi và buồn tẻ hơn ở bản Mít, những giáo viên như Nhung, Nhàn ở bản Trỉa hầu như chẳng có thú vui nào khác vì bị tách biệt với bên ngoài: Không sóng điện thoại, không internet… mọi thông tin của các cô giáo trẻ nơi này chỉ là những buổi xem ti vi nhờ ở nhà dân bản. “Ở đây đúng nghĩa là “thâm sơn cùng cốc”, hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài. Ngày miệt mài dạy chữ cho các em thì còn vui, chứ đêm về chỉ nghe tiếc tác của muông thú ngoài rừng. Thật sự buồn đến não ruột, nhiều lúc chỉ mong đến cuối tuần và trời nắng ráo còn ra ngoài, ít nhất là ra trung tâm xã để còn hít thở chút sôi động của cuộc sống…”, đó là tâm sự chung của các giáo viên nơi đây. Quá đỗi nhọc nhằn, quá đỗi gian khó phải đối mặt hằng ngày là vậy, chế độ đãi ngộ của một số thầy cô giáo cắm bản cũng còn hạn chế, tôi trộm nghĩ nếu tất cả không vì lòng yêu nghề, vì cái chữ cho con trẻ nơi miền sơn cước này chắc hẳn họ sẽ chẳng thế nào bám trụ nỗi. Mang theo niềm trăn trở, sự sẻ chia với thầy cô giáo, học trò miền heo hút, tôi chợt nhớ đến bài hát “Người giáo viên nhân dân” với những ca từ đầy xao xuyến, xúc động: “Em đi gieo hạt giống đẹp bao tâm hồn/Noi gương người anh hùng cách mạng chiếu sáng ngời/Tuổi trẻ bên em là tương lai Tổ quốc/Lớn lên trong trái tim quê hương Việt Nam”.

 

Nói như mẹ Hồ Thị Un ở bản Mít lúc chia tay chúng tôi: “Nếu không có tấm lòng tận tụy và bầu nhiệt huyết của các thầy cô giáo, chắc hẳn con cháu của mẹ, của bản làng sẽ khó thực hiện được ước mơ con chữ. Và chúng khó có thể vươn xa khỏi những dãy núi, suối đèo để xây đắp tương lai tươi sáng…”.

 

Đức Việt

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ