Nghĩa tình đôi bờ Sê Pôn


Ngày cập nhật: 16/06/2018 05:58:40

(QT) - Trong hành trình vượt thác ghềnh tìm về sông mẹ Mê Kông trên đất Lào, sông Sê Pôn uốn mình chảy qua 8 xã, thị trấn của huyện Hướng Hóa để kịp trao gửi từng giọt phù sa màu mỡ mà sông đã cần mẫn chắt chiu từ sỏi đá của đại ngàn Trường Sơn. Từ biền bãi đôi bờ Sê Pôn mọc lên xanh mướt nương ngô, sắn, chuối nằm cạnh những ngôi nhà sàn, nhà ngói đỏ tươi tựa lưng vào bóng núi, đẹp như bức tranh thủy mặc trong ngồn ngộn sức sống của miền biên ải Tổ quốc. Và cư dân bản địa của hai nước Việt Nam - Lào bao đời quần tụ sinh sống dọc đôi bờ Sê Pôn vẫn gắn bó mật thiết, keo sơn trong tình nghĩa anh em…

 

Trẻ em, người lớn ở bản Cheng thường sang bản 7 (xã Thuận) chơi

 

Khi bản A Dơi Đớ, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa còn chìm trong làn sương trắng mờ ảo buổi sáng, ông Hồ Văn Linh (sinh năm 1951) đã nhờ người cháu chở xe máy ra tận bến đò thôn Tân Hòa, xã Thanh, Hướng Hóa để vượt sông Sê Pôn sang bản Ka Tiên, huyện Mường Nòong, tỉnh Savannakhet, Lào thăm bạn là ông Pa La Hơi. Bến đò thôn Tân Hòa khi bình minh chưa ló dạng đã nhộn nhịp đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô từ các bản làng chờ đò đưa sang sông Sê Pôn để mua bán nông sản, thăm hỏi người thân. Chuyến đò chở khách từ các bản làng của nước bạn Lào bên kia sông Sê Pôn cập bến đò thôn Tân Hòa sớm. Nụ cười cùng cái bắt tay thân thiện của người dân đôi bờ Sê Pôn như xóa nhòa “ranh giới” biên giới Việt Nam - Lào. Ông Hồ Văn Linh nói rằng, cứ trước mùa gieo hạt, trồng cây là đồng bào các bản làng bên này sông Sê Pôn gùi cõng giống cây sắn, bời lời đỏ, chuối, phân bón…sang giúp người dân các bản làng của nước bạn Lào. Chính từ sự sẻ chia đầy ân tình ấy đã góp phần tạo nên chuyển biến lớn trong tư duy làm ăn, xóa đói giảm nghèo bền vững cho nhiều hộ dân nước bạn Lào ở các bản làng dọc sông Sê Pôn. Bây giờ, nhiều hộ gia đình ở các bản làng của nước bạn Lào có thu nhập mỗi năm vài chục triệu đồng từ sắn, bời lời đỏ, chuối… không còn là chuyện hiếm.

 

“Hôm nay, tôi qua bản Ka Tiên gặp ông Pa La Hơi là để thăm chơi, nhân tiện bàn chuyện tiếp tục hướng dẫn kỹ thuật trồng cây bời lời đỏ, sắn… nhằm giúp người dân bản Ka Tiên thoát nghèo. Sau chuyến ghé bản Ka Tiên, tiếp đến tôi sẽ ghé các bản như A Rong, Ta Cor, A Roăng, Sa La Vử, La Bàu (huyện Mường Nòong, Savanakhet). Người dân ở các bản này bây giờ đời sống đã khấm khá hơn trước đây rất nhiều. Tuy vậy, vẫn có nhiều hộ dân còn luẩn quẩn trong vòng xoay đói nghèo bởi chưa tìm được cây trồng, vật nuôi thích hợp để có hướng tự xóa đói, giảm nghèo cho gia đình mình. Phải chỉ cho họ cách thoát nghèo từ chính kinh nghiệm của dân bản mình. Ngày xưa, người dân Việt Nam - Lào ở đôi bờ Sê Pôn đoàn kết cùng nhau đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược, thì bây giờ phải biết cùng nhau xây dựng cuộc sống mới, phát triển kinh tế để bản làng no ấm, hạnh phúc…”, ông Hồ Văn Linh chia sẻ.

 

Chuôi Thông vượt sông Sê Pôn sang bản Cheng để bàn bạc với trưởng bản Cheng về thời vụ trồng sắn

 

Trong những năm gần đây, nhiều hộ dân ở xã A Dơi có đời sống khá giả nhờ trồng cây bời lời đỏ. Loại cây có gỗ màu nâu vàng, không mối mọt thường dùng làm đồ gia dụng; vỏ cây bời lời làm chất phụ gia kết dính để làm hương thơm; lá làm thức ăn cho gia súc…mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ông Linh cho biết: “Nhiều lần sang thăm bản A Rong, Ta Cor, A Roăng, Sa La Vử, La Bàu, thấy đất đai phì nhiêu, màu mỡ, rất thích hợp cho việc trồng cây bời lời đỏ. Tôi bàn với các già làng, trưởng bản vận động người dân trồng loại cây này. Cứ có thời gian rảnh rỗi là tôi lại sang các bản làng ấy để hướng dẫn cho người dân kỹ thuật trồng cây bời lời đỏ mà tôi học hỏi được. Khi người dân các bản nói trên của huyện Mường Nòong hiểu được kỹ thuật trồng cây bời lời đỏ, tôi vận động dân bản A Dơi Đớ hỗ trợ, giúp đỡ cây giống, phân bón”.

 

Còn nhớ cách đây chưa lâu, tôi ngồi với Chuôi Thông (60 tuổi), Trưởng bản 7, xã Thuận, huyện Hướng Hóa ở bến đò bên sông Sê Pôn, được nghe ông say sưa kể lại chuyện người dân bản 7 nhường 6 ha đất; hướng dẫn kỹ thuật trồng sắn cho người dân bản Cheng (Tà Xeng Keng Cốc, huyện Sê Pôn, tỉnh Savannakhet) để cùng nhau thoát nghèo. Chuôi Thông cho biết, khoảng năm 2004 khi Nhà máy tinh bột sắn Hướng Hóa được xây dựng, hoàn thành rồi đi vào hoạt động, người dân các bản làng ở vùng Lìa, huyện Hướng Hóa bắt đầu làm quen với cây sắn KM94, cuộc sống vì thế mà khá lên, giàu lên. Bên kia sông Sê Pôn là bản Cheng với gần 40 hộ dân vẫn còn nghèo khó vì cuộc sống chỉ trông chờ vào mấy sào lúa rẫy, đến vụ thu hoạch chỉ được vài a chói. Và rồi, Chuôi Thông và người dân bản 7 bắt đầu vượt sông đưa kiến thức, kinh nghiệm trồng sắn để hướng dẫn tận tình cho người dân bản Cheng bên kia sông. Việc sang bản Cheng hướng dẫn người dân trồng sắn cũng gặp nhiều khó khăn vì người dân bản Cheng cũng như các bản làng khác nằm dọc sông Sê Pôn từ bao đời nay vẫn luôn tuân thủ luật bất thành văn trong sản xuất đó là trồng lúa, ngô hay bất cứ loại cây gì cũng không bao giờ bón phân. Họ sợ bón phân sẽ bị giàng quở phạt làm cho vợ chồng, con cái ốm đau, bệnh tật cùng nhiều tập quán canh tác lạc hậu khác trong sản xuất nông nghiệp.

 

Ông Hồ Văn Linh trên đường sang thăm bản Ka Tiên (huyện Mường Nòong)

 

Để giúp bà con dân bản dần thay đổi tập quán canh tác, Chuôi Thông cùng với A Hinh, Trưởng bản Cheng vận động, thuyết phục dần dần thì họ đã bước qua nỗi sợ giàng phạt để học hỏi kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch cây sắn KM 94. Rồi khi hướng dẫn kỹ thuật cho người dân cũng phải có cách thức riêng. Ví như ông giảng giải với người dân bản Cheng là cây sắn KM 94 có thời gian sinh trưởng khoảng 10 - 11 tháng, nên thời gian trồng sắn tốt nhất là khoảng tháng 2 (dương lịch) hằng năm. Trong khâu làm đất phải cày bừa kỹ càng rồi nhặt sạch cỏ, sau đó lên luống theo hàng dọc…Ở khâu chuẩn bị hom sắn, sau khi thu hoạch củ, cây phải được bảo quản ở nơi râm mát (khoảng 60 - 70 ngày). Khi chuẩn bị trồng, hom sắn được lấy từ những cây tươi đã loại bỏ phần gốc già và phần ngọn (chặt hom phải đảm bảo có chiều dài từ 18 - 20 cm) rồi chấm hai đầu hom vào tro bếp để hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn, nấm… gây bệnh vào vết chặt. Khi trồng hom sắn phải chú ý là hàng cách hàng 1 m và cây cách cây khoảng 0,8 - 0,9 m (bình quân 10.000 - 11.000 cây/ha). Để cây sắn sinh trưởng, phát triển tốt, phải bón các loại phân như phân chuồng, vi sinh, đạm, kali…hợp lý. Còn sâu bệnh phổ biến trên cây sắn là sâu xanh ăn lá, nhện đỏ, đốm lá, thán thư…, cứ tùy từng loại sâu bệnh mà dùng thuốc thích hợp để diệt trừ. Đến bây giờ, người dân bản Cheng đã thành thạo kỹ thuật trồng sắn. Nhiều hộ dân bản Cheng đã giàu lên, khá lên nhờ trồng sắn và nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao khác.

 

“Cách đây vài năm, người dân bản Cheng nhận thấy việc trồng sắn trên đất bản Cheng thì công vận chuyển sắn vượt sông Sê Pôn sang bán cho Nhà máy tinh bột sắn Hướng Hóa cùng nhiều loại chi phí khác tăng cao. Một số hộ dân bản Cheng sang gặp tôi để nhờ vận động người dân bản 7 cho dân bản Cheng thuê đất trồng sắn. Lúc ấy, diện tích đất nông nghiệp của bản 7 đã được phủ kín sắn thì làm gì còn đất mà cho thuê. Trăn trở mãi, cuối cùng tôi quyết định đi từng hộ gia đình trong bản 7 để vận động, thuyết phục việc nhường đất. Cuối cùng, 6 ha đất được người dân bản 7 cho người dân bản Cheng thuê để trồng sắn cho đến tận bây giờ”, Chuôi Thông nhớ lại.

 

Còn rất nhiều công việc đong đầy nghĩa tình của người dân hai bên bờ sông Sê Pôn mà tôi đã “mắt thấy, tai nghe” trong những ngày xuôi ngược ở vùng Lìa. Chính những việc làm nghĩa tình ấy đã giúp cư dân đôi bờ Sê Pôn vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, đảm bảo an ninh biên giới và xây dựng một cuộc sống ấm no hơn.

 

Hoàng Tiến

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ