Đoàn “tàu cá” mang mật danh E75


Ngày cập nhật: 30/04/2018 05:33:50

(QT) - Tháng 4 năm 1975, khi những đoàn quân giải phóng ào ạt tiến về Sài Gòn, có một lực lượng đặc biệt được lệnh dừng lại ở Đà Nẵng, nhận nhiệm vụ trên mặt trận biển Đông. Trong gần 20 ngày, từ 10-29/4/1975, lực lượng đặc biệt này đã trực tiếp tác chiến giải phóng quần đảo Trường Sa. Có những chiến công, cùng với thời gian, tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó lại mang đến những chiêm nghiệm mới. Giải phóng quần đảo Trường Sa năm 1975 là một chiến thắng như thế. Những năm tháng này, khi biển Đông và quần đảo Trường Sa đang từng ngày đối mặt với những âm mưu của nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam, thì câu chuyện giải phóng Trường Sa nhắc lại cùng chúng ta hôm nay sẽ là một bài học muôn đời về tinh thần cảnh giác và giá trị vĩnh hằng của chủ quyền đất nước!

 

Trường Sa vẫn xanh -Ảnh: L.Đ.D​

 

Từ Hải Phòng đến cảng Tiên Sa

 

Thăm Bảo tàng Hải quân, những tấm hình tư liệu của chiến dịch thần tốc giải phóng Trường Sa năm ấy đã dắt chúng tôi tìm đến trụ sở Bộ Tư lệnh Hải quân, số 3, đường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng. Từ đây, chúng tôi bắt đầu hành trình tìm gặp những nhân chứng lịch sử đã ở trong lực lượng đặc biệt đó.

 

Trước khi tìm gặp những nhân chứng, chúng tôi đã tìm thấy những chỉ thị đặc biệt về chiến dịch giải phóng Trường Sa từ cuốn: Một số văn kiện chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 Chiến dịch Hồ Chí Minh của Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng (Nxb QĐND, 2005). Lấy bối cảnh hôm nay để soi vào năm tháng ấy, mới thấy tầm vóc vĩ đại của những bức điện tối khẩn bấy giờ.

 

Ngày 30/3/1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các đồng chí Chu Huy Mân, Võ Chí Công (Quân khu 5) nêu rõ: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa. Trong việc này, anh Nguyễn Bá Phát, phái viên của Bộ Tổng Tham mưu và các cán bộ Hải quân đi cùng sẽ do Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”.

 

Mười ngày sau, ngày 9/4/1975 một bức điện tối khẩn khác từ Quân ủy Trung ương điện cho các đồng chí Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Hoàng Hữu Thái (Phó Tư lệnh Hải quân): “Chỉ thị cho các lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý định xâm chiếm”.

 

Cùng ngày bức điện trên phát đi, từ Hải Phòng, một biên đội gồm 3 tàu của đoàn tàu không số (lữ đoàn 125) gồm tàu 673, 674, 675 rời vùng biển Đông Bắc thẳng tiến vào cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Thuyền trưởng tàu 673 do Nguyễn Xuân Thơm , tàu 674 do Nguyễn Văn Đức và tàu 675 do Phạm Duy Tam làm thuyền trưởng kiêm Biên đội trưởng mở hết tốc lực vượt biển để cập cảng Tiên Sa vào 21 giờ đêm 10/4/1975.

 

Vừa đến cảng Tiên Sa, ngay lập tức cả ba tàu cấp tốc nhận nhiệm vụ chở quân đi giải phóng Trường Sa gồm đội 1 của đoàn 126 đặc công nước Hải quân ( do Anh hùng LLVT Nguyễn Ngọc Quế làm đội trưởng) cùng với một lực lượng đặc công của Sư đoàn 2 - Quân khu 5 phối thuộc. Chỉ huy cả hai lực lượng này là Lữ đoàn trưởng đặc công nước- Đoàn 126- Anh hùng lực lượng vũ trang Mai Năng chỉ huy. Chỉ mấy tiếng đồng hồ cho các lực lượng lên tàu và ẩn kín trong khoang.

 

Đoàn tàu đánh cá mang mật danh C75

 

Từ Tiên Sa, trong đêm tối, cả ba tàu 673, 674 và 675 đều được nguỵ trang thành tàu đánh cá mang cờ hiệu nước ngoài. 4 giờ sáng ngày 11/4, ba con tàu “đánh cá” (với mật danh là biên đội C75) đè sóng tiến về hướng mặt trời mọc, thẳng hướng ra Trường Sa. Đảo Song Tử Tây là đảo đầu tiên mở màn cho chiến dịch này, để rồi rút kinh nghiệm giải phóng các đảo tiếp theo.Trên bộ, đây cũng là thời điểm các cánh quân của ta đang chuẩn bị nổ súng trên mặt trận Phan Rang-Xuân Lộc, Tây Ninh.

 

Biên đội gồm 3 tàu 673, 674, 675 chở quân ra giải phóng Trường Sa -Ảnh chụp lại tại Bảo tàng Hải Quân Việt Nam​

 

Để đưa được toàn bộ lực lượng tiếp cận chính xác với các đảo ở Trường Sa là chuyện không phải dễ dàng gì. Dù rằng với lực lượng đặc công nước tinh nhuệ của Đoàn 126 và đặc công Sư 2 “khét tiếng” của quân khu 5, nếu tiếp cận được đảo đúng giờ G thì chuyện giải phóng đảo không phải quá khó khăn. Nhưng hành trình ra đảo Song Tử Tây ngày đó quả là cam go. Trong căn nhà trên đường Triệu Việt Vương (Đà Nẵng), đại tá Phạm Duy Tam nhớ lại: “Tàu chở lực lượng đi đánh Trường Sa vốn là những chiếc tàu của “Đoàn tàu không số” đã từng vận tải vũ khí cho chiến trường miền Nam. Tàu trang bị rất thô sơ. Ngày ấy, tàu không có các phương tiện khí tài dẫn đường hiện đại như ra đa, máy định vị, đo sâu…như bây giờ. Trên tàu chỉ có một la bàn từ, một đồng hồ thiên văn và bộ “bầu trời sao” để định hướng theo sao trời. Tuy nhiên cả 3 thuyền trưởng của biên đội C75 đều đã từng có nhiều kinh nghiệm trong những chuyến vận chuyển vũ khí trên “tàu không số”.

 

Nhiều lần đi qua vùng biển này, nhìn thấy rõ trên đảo vốn không có cây cối, các đảo lại thấp, vào ban đêm rất khó phát hiện. Lo nhất là trên quần đảo này có một số đảo do các nước khác đang chiếm đóng, chỉ thị của Quân ủy là “chỉ giải phóng các đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ” tuyệt đối chưa được đụng đến các đảo do nước ngoài đang chiếm. Mà Trường Sa bấy giờ Philippines đang chiếm đóng trên 5 đảo, trong đó có đảo Song Tử Đông chỉ cách mục tiêu Song Tử Tây vài hải lý. Nếu trong đêm không phân biệt được, đổ bộ nhầm lên đảo Philippines đang chiếm giữ thì hậu quả sẽ vô cùng tai hại”.

 

Khoảng 1 giờ sáng ngày 14/4/1975, đội 1 đặc công do Đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy chia làm 3 mũi lặng lẽ rời tàu 673, dùng xuồng đổ bộ lên đảo. Các tàu 674 và 675 làm nhiệm vụ án ngữ phía bên ngoài. Lúc này Song Tử Tây trong màn đêm là một khối thẫm màu, thỉnh thoảng có vài ánh đèn tuần tra trên đảo lúc tắt, lúc sáng. Theo đại tá Quế thì có hai mũi đổ bộ an toàn nhưng mũi còn lại xảy ra sự cố không thể tiếp cận đảo do sóng quá to. Hơn 1 giờ đồng hồ sau, mũi tiến công gặp sự cố cũng đã bám được đảo. Đúng 4 giờ 30 sáng ngày 14/4/1975, ba mũi đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch co cụm về trận địa phòng thủ để chống trả. Thiếu tướng Mai Năng nhớ lại, vào đầu trận đánh, đặc công ta có lợi thế bất ngờ nhưng hỏa lực của đối phương còn khá mạnh, “chúng tôi hô lớn về việc sử dụng hỏa lực mạnh để uy hiếp tinh thần địch ẩn núp trong hầm”. Súng bắn ra từ nơi phòng thủ thêm một lúc nữa rồi dừng hẳn. Đến khoảng 5 giờ 30 phút sáng ngày 14/4/1975, binh sĩ Sài Gòn trên đảo Song Tử Tây đồng loạt đầu hàng. Lá cờ Tổ quốc được kéo lên thay lá cờ của chế độ cũ. “Người có vinh dự treo cờ Tổ quốc trên đảo Song Tử Tây là hạ sĩ Lê Xuân Phát, thuộc Đội 1, Đoàn đặc công 126”, Đại tá Quế nói.

 

Ngay sau khi giải phóng đảo Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ ở toàn bộ quần đảo Trường Sa bị đe dọa. Cùng lúc này các lực lượng của đoàn đặc công 126 tiếp tục theo tàu đi giải phóng các đảo còn lại: Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca, An Bang và Trường Sa lớn. Ngay hôm đó (14/4), tàu 675 chở tù binh quay về Đà Nẵng để bàn giao và chở quân của Sư đoàn 2 Quân khu 5 kịp thời ra tiếp quản, thiết lập hệ thống phòng thủ bảo vệ đảo Song Tử Tây, rồi tiếp tục chở quân của Lữ đoàn đặc công 126 tiếp tục hành trình giải phóng quần đảo Trường Sa.

 

Sau hơn 30 năm, thuyền trưởng của 3 chiếc tàu của chiến dịch trên gặp nhau tại Hà Nội (từ trái sang: Nguyễn Xuân Thơm (tàu 673), Nguyễn Văn Đức (tàu 674), Phạm Duy Tam (tàu 675) -Ảnh chụp lại từ tư liệu gia đình đại tá Phạm Duy Tam​

 

Theo Thiếu tướng Mai Năng, ngày 20/4/1975, chủ trương tiến đánh giải phóng các đảo còn lại trong quần đảo Trường Sa đã được truyền từ trên xuống. Ngay đêm hôm đó, lực lượng đi giải phóng các đảo đã được phân công cụ thể. Rạng sáng ngày 21/4/1975, chiếc tàu có số hiệu 641 do đồng chí Đỗ Việt Cường (Đội phó Đội 1 của Đoàn 126, sau này là Chuẩn Đô đốc, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân) chỉ huy nhằm hướng mục tiêu H3 (đảo Sơn Ca) thẳng tiến. Cũng như các con tàu trong Biên đội đi đánh đảo Song Tử Tây, tàu 641 được cải trang thành tàu đánh cá và liên tục thay đổi biển số tàu để tránh bị lộ. Kế hoạch dự kiến tàu 641 sẽ đánh vào đêm 23/4/1975, nhưng trên đường gặp nhiều tàu ngầm, tàu khu trục và máy bay Mỹ nên cấp trên đồng ý cho tàu 641 lùi thời điểm tấn công… Đúng 2 giờ sáng ngày 25/4/1975, quân ta đổ bộ lên đảo Sơn Ca. Đến 2 giờ 30 phút, toàn bộ các mũi tiến công đồng loạt nổ súng, quân địch đầu hàng chỉ sau nửa giờ. Cờ giải phóng tung bay trên đảo Sơn Ca.

 

Đêm 26/4, Chỉ huy trưởng Mai Năng nhận được bức điện từ cấp trên với nội dung: “Địch đã có lệnh rút khỏi đảo Nam Yết đêm nay, các anh quan sát, nếu địch không phát hiện được thì tổ chức đánh từ phía sau, nếu không thực hiện được thì nguỵ trang ở khu vực lân cận chờ địch rút ra, cho lực lượng lên chiếm đảo, không để đảo lọt vào tay đối thủ khác, vì tàu địch không được nổ súng vào tàu lạ, chúng rất sợ xảy ra các trận hải chiến”.

 

Ngày 27/4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Cấp trên giao cho Chỉ huy trưởng Mai Năng ở lại đảo Nam Yết. Ngày 28/4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất… Một vùng biển rộng lớn giàu tài nguyên với những đảo và quần đáo có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đã thuộc chủ quyền của Tổ quốc .

 

Sáng ngày 30/4/1975, Phó Tư lệnh Hoàng Hữu Thái lệnh cho tàu 673 trở về đảo Nam Yết để đón Chỉ huy trưởng Mai Năng về đất liền nhận nhiệm vụ mới. Một lần, sau khi đã giải phóng một mục tiêu trong quần đảo Trường Sa, Chỉ huy trưởng Mai Năng đã gặp và hỏi những binh sĩ Sài Gòn về lý do họ quyết định đầu hàng dù trước đó đã có sự chống trả, câu trả lời thực sự khiến ông bất ngờ. Những binh sĩ bên kia chiến tuyến đã nói: Sở dĩ lúc đầu họ chống trả quyết liệt vì nghĩ đó là quân đội nước ngoài tấn công lên đảo. Họ chỉ nhận ra quân giải phóng khi những người lính đặc công hô lớn về việc sử dụng hỏa lực mạnh và thấy đúng là giọng nói của người miền Bắc. “Lúc bấy giờ, một binh sĩ Sài Gòn có nói với tôi rằng: lúc đầu họ rất sợ cách đánh bất ngờ, táo bạo khiến cho họ không biết đối phương là ai, điều họ sợ nhất là hải quân nước ngoài tiến công chiếm đảo. Khi đã nhận biết đối phương qua giọng nói thì họ đỡ sợ hơn, vì lực lượng giải phóng đảo là quân đội miền Bắc, đều là đất nước Việt Nam cả. Câu nói đó dù mấy chục năm trôi qua, tôi vẫn không thể nào quên”.

 

Lê Việt Thường

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ