Từ chiếc thuyền nan đến những con tàu công suất lớn


Ngày cập nhật: 12/06/2019 06:36:40

(QT) - Nhìn lại chặng đường sau 30 năm lập lại tỉnh Quảng Trị, ngành khai thác thủy sản đã có những bước phát triển vượt bậc. Nếu như trước đây ngư dân chỉ có những thuyền thúng, thuyền nan công suất nhỏ, đánh bắt gần bờ thì giờ đây những chiếc tàu công suất lớn, tàu vỏ thép đã dần thay thế, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu, thay đổi hoàn toàn bộ mặt nông thôn vùng biển khó khăn cách đây 30 năm về trước...

 

Tàu cá có công suất lớn giúp ngư dân vươn khơi đánh bắt dài ngày, đem lại hiệu quả kinh tế cao​

 

Hiệu quả rõ rệt

 

Vừa trở về sau gần nửa tháng đánh bắt ở vùng biển phía bắc quần đảo Hoàng Sa nhưng ngư dân Hồ Văn Hoàn ở xã Trung Giang, huyện Gio Linh, chủ con tàu vỏ thép số hiệu QT 90129TS có công suất 829 CV đã vội vã tiếp dầu, chuyển đá cùng thực phẩm để chuẩn bị xuất bến. Lí giải sự khẩn trương này, anh Hoàn nói gọn: “Đang chính vụ cá Nam, thời tiết lại thuận lợi nên phải tranh thủ!”. Hóa ra mùa này biển êm nên ngư dân dễ trúng luồng cá lớn, nhất là cá nục, cá ngừ. Thế nên dù mệt nhoài sau chuyến biển dài ngày, nhưng cả chủ tàu lẫn anh em bạn thuyền đều nhất quyết không chịu nghỉ ngơi mà hối hả lên tàu thẳng hướng ra khơi những mong kiếm thêm nhiều “lộc biển”.

 

Anh Hoàn là một trong ba anh em ruột ở xã biển Trung Giang đã tự tích cóp vốn liếng, tiếp cận chính sách hỗ trợ vốn vay của nhà nước đóng được 3 con tàu vỏ thép công suất lớn, phối hợp cùng đánh bắt ở ngư trường từ phía Bắc quần đảo Hoàng Sa đến phía Nam đảo Hải Nam bằng nghề lưới vây ánh sáng. Trao đổi với chúng tôi, anh Hoàn cho biết, từ khi đóng được con tàu vỏ thép chắc chắn, công suất lớn, lại ra khơi theo tổ đội đoàn kết, anh và các bạn thuyền rất vững lòng khi ra khơi đánh bắt; không còn phải thấp thỏm lo âu tàu nước ngoài gây hấn cũng như khi thời tiết thất thường; thời gian bám biển cũng tăng lên, giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả đánh bắt. Anh Hoàn hồi tưởng, mới đó mà anh đã có gần 30 năm đi biển. Hồi đó, đánh bắt chỉ bằng kinh nghiệm mà cha ông truyền lại, phương tiện khai thác chỉ là chiếc thuyền nan nhỏ bé nên chỉ dám quanh quẩn gần bờ, chuyến được, chuyến mất. Chắt chiu mấy chục năm trời, kết hợp với nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ, anh cùng 2 anh em ruột của mình quyết định đóng tàu vỏ thép vươn khơi bám biển. “Giờ có con tàu vỏ thép chắc chắn, ngư lưới cụ đầy đủ, lại có máy dò cá, máy thông tin liên lạc tầm xa nên ngư dân chúng tôi rất an tâm khi ra khơi. Mỗi khi nghe dự báo thời tiết xấu, tàu kịp thời di chuyển đến nơi trú ẩn an toàn nhờ công suất lớn, tốc độ nhanh. Hiệu quả đánh bắt cũng tăng rõ rệt”, vừa nói anh Hoàn vừa kiểm tra lại mọi thứ lần cuối rồi kéo một hồi còi dài chào đất liền. Con tàu vỏ thép từ từ quay mũi nhằm thẳng hướng đại dương rẽ sóng ra khơi.

 

Tại xã biển Triệu An, huyện Triệu Phong, tranh thủ phút nghỉ ngơi khi đang bốc xếp ngư lưới cụ lên thuyền, ngư dân Võ Quang Lãnh cho biết, trước đây cũng như nhiều ngư dân, anh ra khơi chỉ với chiếc thuyền nan nhỏ bé lắp máy 24 CV, đánh bắt quanh quẩn ở vùng lộng. Rồi tích cóp, vay mượn đóng được chiếc tàu xa bờ 90 CV nhưng phần lớn các chuyến biển cũng chỉ cách bờ từ 80 - 100 hải lí, chỉ có vài chuyến biển ít ỏi vươn đến ngư trường Hoàng Sa, tuy đánh bắt hiệu quả nhưng vẫn không yêu tâm vì độ an toàn thấp. Năm 2017, được sự hỗ trợ theo Nghị định 67/2014/NĐCP của Chính phủ với số tiền gần 1,1 tỉ đồng, anh đã nâng cấp, cải hoán tàu lên hơn 400 CV, mua sắm thêm ngư lưới cụ, lắp thêm máy dò ngang để nâng cao hiệu quả đánh bắt. Theo anh Lãnh, nếu như trước đây mỗi khi gặp thời tiết xấu rất nguy hiểm do tàu có công suất nhỏ, tốc độ chậm. Hải sản vùng gần bờ chủ yếu là cá cơm, cá nục… có giá trị kinh tế thấp. Từ ngày được nâng cấp, hầu hết các chuyến biển của anh đều vươn đến tận ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa với các loại hải sản có giá trị cao như cá thu, cá ngừ… “Tàu có công suất lớn, ngư lưới cụ hiện đại, lại đánh bắt dài ngày nên hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn. Từ sau khi nâng cấp đến nay, bình quân mỗi chuyến biển sau khi trừ chi phí và chia cho các bạn thuyền, tôi thu lãi từ 30 - 50 triệu đồng. Không chỉ đánh bắt hiệu quả mà còn đảm bảo an toàn cho ngư dân, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, anh Lãnh nói.

 

Huyện Gio Linh là địa phương có số lượng tàu thuyền lớn nhất tỉnh với 886 tàu thuyền khai thác thủy sản và dịch vụ, với tổng công suất 78.914 CV, trong đó có 171 tàu xa bờ. Theo Chủ tịch UBND huyện Gio Linh Trần Văn Quảng, chủ trương đánh bắt hải sản xa bờ đã tạo luồng gió mới, ngày một lan rộng, giúp các gia đình ngư dân có thu nhập khấm khá hơn. Từ chỗ bám biển bằng thuyền nan nhỏ bé, nhờ tiết kiệm, tích cóp vốn liếng, kết hợp với sự hỗ trợ của nhà nước, ngư dân trên địa bàn huyện đã đóng được những con tàu vỏ thép kiên cố, hiện đại, nâng cao hiệu quả sản xuất. Điển hình như các ngư dân Lê Văn Tuấn, Lê Văn Viện ở xã Gio Việt nhờ máy dò ngang, tàu cá có công suất lớn đã phát hiện được những mẻ cá bè từ 100 - 140 tấn, mang lại lợi nhuận từ 4 - 5 tỉ đồng. Ông Quảng cho biết thêm, huyện sẽ tập trung phát triển, hiện đại hóa đội tàu đánh bắt hải sản xa bờ bằng cách tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân tiếp cận chính sách của nhà nước về đóng mới tàu vỏ thép cũng như cải hoán nâng cấp tàu công suất lớn nhằm tăng sản lượng, nâng cao giá trị, tăng thu nhập cho ngư dân. Đồng thời mở các lớp tập huấn đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng để ngư dân đủ khả năng vận hành những con tàu công suất lớn vươn khơi bám biển dài ngày hơn. Phối hợp với các đơn vị liên quan hỗ trợ ngư dân trong việc ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất như lắp đặt máy thông tin liên lạc, chuyển đổi công nghệ đèn cao áp sang đèn LED để tiết kiệm nhiên liệu, lắp đặt máy dò cá để nâng cao hiệu quả đánh bắt…

 

Có thể nói sau 30 năm lập lại tỉnh, ngành thủy sản đã có những bước phát triển vượt bậc theo hướng bền vững, ngư dân đã mạnh dạn đóng mới, cải hoán tàu cá có công suất lớn, nhất là tàu cá vỏ thép, vỏ composite; trang thiết bị ngư lưới cụ, thiết bị hàng hải, thông tin liên lạc và thiết bị dò cá hiện đại, đồng bộ. Tổ chức đánh bắt phù hợp theo mùa vụ và theo hình thức tổ hợp tác đánh cá trên biển; các dịch vụ hậu cần hỗ trợ khai thác như cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão tiếp tục được đầu tư xây dựng, nâng cấp, công tác đảm bảo an toàn cho tàu thuyền trên biển được nâng cao. Khai thác thủy sản phát triển theo hướng đẩy mạnh đánh bắt vùng biển xa gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Nguyễn Hoài Nam thông tin, nếu như năm 1989 toàn tỉnh chỉ có khoảng 1.000 chiếc thuyền đánh cá với tổng công suất 7.400 CV, trong đó có hàng trăm thuyền thủ công không lắp máy ở vùng bãi ngang, hoàn toàn không có tàu cá xa bờ công suất trên 50 CV, thì đến nay đã có 2.318 chiếc với tổng công suất gần 127.000 CV, trong đó có 235 tàu cá từ 90 CV trở lên trở lên thường xuyên tham gia khai thác vùng biển xa.

 

Chuẩn bị ngư lưới cụ trước khi ra khơi đánh bắt hải sản​

 

Đặc biệt, thực hiện Nghị định 67/2014/ NĐ-CP của Chính phủ, đến nay toàn tỉnh đã đóng mới được 25 tàu cá có công suất lớn trên 400 CV, trong đó có 17 tàu cá vỏ thép, 1 tàu cá vỏ composite và 7 tàu cá vỏ gỗ; cải hoán nâng cấp được 93 tàu và đưa vào sử dụng cho hiệu quả cao. Ngư lưới cụ từ sử dụng lưới rê, lưới xăm đến nay đã được trang bị đồng bộ như lưới rê hỗn hợp, lưới vây kết hợp ánh sáng, lưới chụp, nghề pha xúc đánh cá cơm; sử dụng máy định vị vệ tinh, máy dò ngang để dò tìm đàn cá, sử dụng máy tời thủy lực để giảm sức lao động, tăng hiệu quả kinh kế; sử dụng các phương pháp bảo quản sản phẩm mới để tăng chất lượng sản phẩm sau khai thác; đặc biệt các tàu lưới vây vỏ thép đã sử dụng hầm cấp đông, sử dụng máy thông tin liên lạc để kết nối thông tin từ biển với đất liền thông suốt, nối khoảng cách giữa biển và đất liền gần hơn. “Nếu như trước đây ngư dân chủ yếu khai thác ven bờ, xa nhất cũng chỉ xung quanh đảo Cồn Cỏ thì hiện nay, ngư dân đã vươn khơi, mở rộng ngư trường để khai thác như ngư trường vịnh Bắc Bộ, phía Đông Nam Đà Nẵng, ngư trường trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”, ông Nam chia sẻ.

 

Đẩy mạnh phát triển đội tàu xa bờ

 

Theo tính toán của ngư dân, mỗi chuyến đánh bắt của tàu vỏ thép có thể tiết kiệm từ 30 - 40% nhiên liệu so với tàu vỏ gỗ nhờ công suất lớn, tốc độ hành trình cao. Các tàu đều có hầm bảo quản hải sản hiện đại, hạn chế tối đa thất thoát, đảm bảo chất lượng, bán được giá. Các khoang tàu rộng lớn đảm bảo chứa đầy đủ nhiên liệu, nước ngọt, lương thực thực phẩm phục vụ nhu cầu đánh bắt dài ngày. Ngư lưới cụ hiện đại, máy thông tin liên lạc tầm xa, máy dò cá đã góp phần nâng cao hiệu quả đánh bắt. Khó khăn lớn nhất trong việc đầu tư tàu vỏ thép là nguồn vốn rất lớn, bình quân mỗi chiếc trên dưới 20 tỉ đồng, trong đó vốn tự có của ngư dân chỉ từ 15 - 20%, còn lại phải vay ngân hàng. Tuy nhiên, theo các ngư dân đó là khó khăn nhưng cũng là động lực để các tàu vỏ thép quyết tâm vươn khơi, bám biển để không chỉ lo trả nợ ngân hàng mà còn làm giàu từ biển.

 

Theo ông Nguyễn Hoài Nam, định hướng phát triển trong thời gian tới là chuyển đổi mạnh khai thác thuỷ sản ven bờ sang xa bờ. Trong đó tiếp tục đầu tư cải hoán, đóng mới phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ trên 90 CV; khuyến khích phát triển tàu cá công suất 400CV trở lên, trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại để tham gia khai thác vùng biển xa, giảm dần tàu ca cỡ nhỏ công suất dưới 30 CV. Phấn đấu đến năm 2020 có 2.200 tàu cá, công suất 140.000 CV; năm 2030 có 2.000 chiếc với tổng công suất trên 200.000 CV, trong đó tàu cá xa bờ từ 280 - 300 chiếc. Đồng thời phát triển các nghề khai thác lưới vây, đặc biệt là vây ngày có sử dụng máy dò ngang sonar; nghề câu cá ngừ đại dương; chụp mực 4 tăng gông; phát triển các nghề mới như lồng bẫy, chụp mực, chụp cá, rê khơi, câu khơi… Phấn đấu đến năm 2020, sản lượng khai thác thủy sản đạt 25.000 tấn; từ năm 2021 - 2030 đạt 26.000 - 27.000 tấn. “Trong khi nhiều tàu ở một số tỉnh bị rỉ rét, xuống cấp chỉ trong thời gian ngắn hoạt động thì các tàu vỏ thép trên địa bàn tỉnh đến nay vẫn an toàn. Với lớp vỏ thép chắc chắn, kèm theo nhiều tính năng vượt trội nên đảm bảo an toàn cho ngư dân trong quá trình vươn khơi bám biển. Trong thời gian tới chi cục sẽ tiếp tục triển khai các chính sách phát triển thủy sản nhằm khuyến khích ngư dân đóng mới tàu cá, nhất là tàu cá vỏ thép, nâng cấp, trang thiết bị ngư lưới cụ, máy thông tin liên lạc, máy dò ngang. Đồng thời phối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị liên quan trong công tác tuần tra, kiểm soát trên biển để bảo vệ nguồn lợi thủy sản có hiệu quả, khuyến khích và động viên các tàu tham gia khai thác trên các vùng biển xa nhằm góp phần bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc”, ông Nam cho hay.

 

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Sỹ Đồng, với 75 km bờ biển rất thuận lợi cho đánh bắt thủy sản do vậy trong thời gian qua tỉnh đã triển khai rất đồng bộ các chủ trương, chính sách về khuyến khích khai thác thủy sản như Nghị định 67, Quyết định 47… để hỗ trợ ngư dân nâng cấp, cải hoán, đóng mới tàu thuyền; chuyển dịch dần từ đánh bắt gần bờ ra trung bờ và xa bờ; nâng cao sản lượng đánh bắt và hiệu quả kinh tế. Cùng với đó, tỉnh cũng đã tập trung kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến, tiêu thụ các sản phẩm đánh bắt được. “Tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế biển, trong đó tập trung hoàn thiện hạ tầng, hỗ trợ thành lập các tổ, đội sản xuất trên biển. Phấn đấu tỉ trọng khai thác và nuôi trồng thủy sản trong thời gian tới đạt mục tiêu trên 1.000 tỉ đồng/ năm”, ông Hà Sỹ Đồng nhấn mạnh.

 

Thục Quyên

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ