“Tam nông” - Từ nghị quyết đến nền nông nghiệp hiện đại


Ngày cập nhật: 02/02/2019 15:26:29

(QT Xuân) - Ngày 5/8/2008, Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng, khóa X đã ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đến nay, sau 10 năm đi vào thực tiễn, nền nông nghiệp tỉnh Quảng Trị đã có bước tăng trưởng khá toàn diện; đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân không ngừng được cải thiện; từng bước hướng đến nền nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao.

 

Trồng rau an toàn theo phương pháp thủy canh hồi lưu ở Vĩnh Linh​

 

Những kết quả đạt được

 

Tại huyện Hải Lăng, thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV, những năm qua, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả quan trọng, nhiều địa phương đã có cách làm hay, thực hiện có hiệu quả việc tái cơ cấu nông nghiệp. Điển hình như HTX Kim Long (xã Hải Quế) là địa phương nằm trong vùng trũng, điều kiện sản xuất nông nghiệp không được thuận lợi. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ, tạo điều kiện của chính quyền và các tổ chức đoàn thể, người dân đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị kinh tế trên 1 đơn vị diện tích. Cùng với dồn điền, đổi thửa, các hộ gia đình đã mua sắm các loại máy móc, phục vụ cho làm đất, thu hoạch, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, tổ chức xây dựng mô hình sản xuất lúa hữu cơ, mở rộng diện tích lúa chất lượng cao.

 

Với gần 5 sào đất trồng lúa của gia đình, nhưng trong thời gian khá dài ông Nguyễn Văn Cư ở tại HTX Kim Long (xã Hải Quế, huyện Hải Lăng) chủ yếu dùng sức của trâu, bò để cày, bừa ruộng. Có cố gắng lắm mỗi ngày ông cũng chỉ làm được vài sào đất. Còn việc thu hoạch lúa được thực hiện chủ yếu theo hình thức “đổi công”, tức là nhiều hộ tập trung lại gặt lúa cho nhà này xong, rồi lại gặt cho nhà kia, tốn rất nhiều thời gian và công sức. “Nút thắt” được gỡ khi đến năm 2009, ông Cư được tiếp cận các chính sách hỗ trợ vốn vay, dồn điền đổi thửa để đầu tư sản xuất. Sau gần 10 năm, giờ đây ông Cư đã có trong tay nhiều máy móc hiện đại như máy cày, máy gặt đập liên hợp, máy ủi, xe múc… Hằng năm sau khi trừ chi phí đã mang lại thu nhập hơn 500 triệu đồng. “Bây giờ đã có máy cày làm đất rất nhanh, làm gần 1 ha lúa chỉ mất chưa đầy 1 ngày, máy gặt đập liên hợp mỗi ngày thu hoạch hàng chục héc ta lúa. Đến vụ thu hoạch người nông dân chỉ cần đứng chờ máy gặt đập xong là chở lúa về nhà. Việc ứng dụng máy móc vào sản xuất đã giúp người nông dân giảm được rất nhiều ngày công, năng suất và thu nhập tăng rõ rệt”, ông Cư chia sẻ.

 

Ông Nguyễn Hữu Phước, Giám đốc HTX Kim Long (xã Hải Quế) nhớ lại: Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 26, bộ mặt nông thôn của HTX Kim Long đã có nhiều khởi sắc. Chuyển từ sản xuất theo kiểu nhỏ lẻ, manh mún sang sử dụng máy móc hiện đại. Đồng ruộng được đầu tư cơ bản đồng bộ, đường giao thông, hệ thống thủy lợi, tích tụ ruộng đất… được chú trọng đã tạo thuận lợi cho việc đưa cơ giới vào sản xuất. HTX cũng đã vận động xã viên xây dựng các mô hình cánh đồng lớn, sản xuất lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ… Đặc biệt là các giống lúa đặc sản của HTX như Bồ Đề 688X2, Tím Thái. Quy hoạch được các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, xây dựng nhãn hiệu cho cây ném.

 

Theo ông Nguyễn Đức Thành, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Hải Lăng, để hỗ trợ các địa phương phát triển nông nghiệp đúng hướng, huyện Hải Lăng đã xây dựng đề án tái cơ cấu nông nghiệp với các nhóm giải pháp cụ thể. Đồng thời, ban hành nhiều chính sách, hỗ trợ hơn 1,7 tỷ đồng phát triển các loại cây, con chủ lực. Nhờ vậy, cùng với thâm canh cây lúa, đến nay toàn huyện đã có 834,8 ha cánh đồng lớn sản xuất 2 vụ, 8 HTX sản xuất lúa hữu cơ với diện tích 2 vụ gần 168 ha, cho năng suất, chất lượng, giá bán cao. Đặc biệt, việc liên kết sản xuất, phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao được quan tâm như mô hình rau sạch của Hợp tác xã Nông nghiệp công nghệ cao Nguyên Khang - Hải Lăng Garden, mô hình tiêu sạch Hải Chánh, ném sạch Hải Dương, cam sạch K4 Hải Phú, gà sạch Trằm Ry… đã tạo nên dấu ấn về sự bắt đầu đầy hứa hẹn của một nền nông nghiệp hiện đại, sử dụng công nghệ cao và hướng đến người tiêu dùng. Ông Thành cho biết: Để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, huyện đang tập trung chỉ đạo tiếp tục nhân rộng một số mô hình kinh tế có hiệu quả, hình thành một số mô hình mới, chú trọng vào các mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp sạch, chất lượng cao. Đồng thời, tăng cường liên doanh liên kết với doanh nghiệp phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao cũng như làm tốt hơn nữa công tác kết nối cung cầu, tiêu thụ sản phẩm cho người dân. Tất cả để hướng đến khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai và lao động, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có khả năng cạnh tranh, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân.

 

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực của người dân, có thể nói khu vực “tam nông” của tỉnh đã có những thay đổi căn bản. Đã có hàng trăm mô hình mới, đối tượng sản xuất mới được đưa vào thử nghiệm và thành công tạo nên sự thay đổi cơ bản trong bức tranh nông nghiệp của tỉnh nhà, điển hình như: Gạo chất lượng cao, gạo hữu cơ, rừng có chứng chỉ FSC, cây ăn quả có múi, cây dược liệu. Các sản phẩm chủ lực truyền thống dần được định hướng theo thị trường với đa dạng hóa các sản phẩm phục vụ xuất khẩu, số lượng các nhà máy chế biến được đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất tăng lên đáng kể, nhiều sản phẩm như cà phê, hồ tiêu, tinh bột sắn... đã được xuất khẩu sang thị trường các nước lớn như: Mỹ, châu Âu... Tỉnh cũng đã xác định được bộ sản phẩm chủ lực có lợi thế canh tranh gồm “6 cây, 2 con” cho giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến 2025 gồm hồ tiêu, cà phê chè, cao su, gỗ nguyên liệu, cây dược liệu, cây lúa và con bò, con tôm gắn với chuỗi giá trị sản phẩm liên kết trong nông nghiệp từ sản xuất đến chế biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ.

 

Ông Trần Thanh Hiền, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết, xác định điểm nghẽn lớn nhất để mở rộng quy mô sản xuất là thị trường, đầu ra của sản phẩm, ngành Nông nghiệp đã cùng với các địa phương nỗ lực kêu gọi, kết nối và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Từ việc chưa liên kết được với doanh nghiệp nào trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm năm 2008, những năm gần đây, đặc biệt năm 2017, ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh nhà đã tập trung xúc tiến, mời gọi, kết nối với nhiều doanh nghiệp để liên kết sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm chủ lực, điển hình như: Hợp tác với Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Đại Nam về phát triển nền nông nghiệp hữu cơ, xây dựng thương hiệu Gạo hữu cơ Quảng Trị với sản lượng ban đầu hơn 1.000 tấn; với Công ty CP Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao phát triển vùng dứa nguyên liệu phục vụ xuất khẩu quy mô 150 ha; với Công ty CP dược liệu Việt Nam trồng và tiêu thụ cây dược liệu; với Công ty CP Tổng công ty thương mại Quảng Trị thu mua hồ tiêu, ngô, sắn… Thông qua doanh nghiệp, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới đã được ứng dụng và chuyển giao trên diện rộng vào sản xuất. Đồng thời, vai trò vị trí của Hợp tác xã, Tổ hợp tác được nâng lên, trở thành điểm tựa cho doanh nghiệp liên kết với nông dân để tổ chức sản xuất, giải quyết được tình trạng manh mún nhỏ lẻ trong sản xuất, tạo điều kiện để ứng dụng cơ giới hóa và hiện đại hóa trên diện rộng. Ngoài ra, tỉnh còn xây dựng được nhiều thương hiệu cho các loại nông sản khác như: “cà phê Khe Sanh”, “rau xà lách xoong Gio An”, “dưa hấu Vĩnh Tú”…

 

Theo thống kê, đến nay toàn tỉnh đã có gần 190 sản phẩm được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu; trong đó có 1 chỉ dẫn địa lý là “hồ tiêu Quảng Trị”, 16 nhãn hiệu tập thể, 4 nhãn hiệu chứng nhận, còn lại là các nhãn hiệu hàng hóa khác. “Trong thời gian tới, ngành Nông nghiệp sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc chuyển dần sản xuất nông nghiệp phát triển từ số lượng sang chất lượng, an toàn thực thẩm và nâng cao giá trị gia tăng; tăng cường ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao vào sản xuất; nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Tiếp tục thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, đẩy nhanh quá trình tập trung tích tụ ruộng đất gắn với quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Thực hiện tốt các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm nông nghiệp chủ lực có lợi thế như: Lúa chất lượng cao, cao su, cà phê, tiêu, gỗ rừng trồng… Phát triển một số cây dược liệu, cây ăn quả có hiệu quả cao. Phấn đấu đến năm 2020 đạt thu nhập bình quân 60 triệu đồng/người/năm như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã đề ra”, ông Hiền khẳng định.

 

Phát huy vai trò chủ thể của nông dân

 

Từ năm 2008 trở về trước, các chính sách nông nghiệp chỉ mang tính thời vụ nên sản xuất nông nghiệp chủ yếu là nhỏ lẻ, phân tán. Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được triển khai với những chính sách vừa mang tính tổng thể, vừa mang tính đột phá, đặc thù, tác động lớn tới nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đặc biệt, các chính sách hỗ trợ lãi suất, cơ giới hóa sản xuất, khuyến khích phát triển sản xuất đã hình thành các phương thức sản xuất mới, tập trung, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm. Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện, nông dân trong toàn tỉnh đã tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đổi mới và hội nhập của tỉnh, tạo nên những thành tựu to lớn trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân được cải thiện, các chính sách an sinh xã hội ngày càng được đảm bảo. Bình quân hằng năm, có trên 21.800 hộ đạt hộ sản xuất - kinh doanh giỏi; tỷ lệ hộ nghèo vùng nông thôn giảm còn 14,25%; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 40 triệu đồng/năm.

 

Không chỉ trong sản xuất, người nông dân còn là chủ thể, đi đầu trong xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Sau 8 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn tỉnh đã có 42/117 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 36% số xã của tỉnh), tiêu chí đạt bình quân toàn tỉnh là 14,25 tiêu chí/xã. Nhiều khu dân cư kinh tế phát triển, môi trường tốt, cảnh quan đẹp, văn hóa được phát huy, đã trở thành “vùng quê đáng sống”.

 

Có thể nói, cùng với việc quan tâm phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí cũng được nâng lên; dân chủ được mở rộng, quyền làm chủ của người nông dân được phát huy. Nông dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tham gia giám sát, phản biện xã hội. Vai trò, vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được khẳng định và nâng cao, thực sự xứng đáng là trung tâm, nòng cốt trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

 

Lê An

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ