Ông Dóc không nói…dóc!


Ngày cập nhật: 02/01/2019 14:21:05

(QT) - Giữa buổi người ta xem tấc đất là tấc vàng, thì cách cho không hàng ngàn ha đất “mặt tiền” QL 9 để xây dựng các công trình công cộng của một lão nông Vân Kiều sống ở bàn Vùng Kho, xã Đakrông, huyện Đakrông hẳn sẽ làm cho nhiều người phải ngả mũ…kính phục. Ông là Hồ Ta Dóc, tuổi đã qua lục tuần.

 

“Đại gia bất động sản vùng cao” Hồ Ta Dóc thăm hỏi bà con trong bản Vùng Kho.Ảnh: THANH LỘC

 

Ông Dóc thú vị ngay từ cả cái tên. Dân bản Vùng Kho bảo rằng, theo ngôn ngữ người Kinh, Hồ Ta Dóc dù tên là Dóc nhưng không bao giờ nói…dóc mà chỉ toàn nói thật. Chưa hết, theo ngôn ngữ của người Vân Kiều, “Ta Dóc” có nghĩa là “không thích” nhưng những việc của ông Dóc làm, dân bản ai cũng… mê tơi!

 

“Dị nhân” ở vùng kho

 

Đối với dân bản Vùng Kho, Hồ Ta Dóc vốn là một…dị nhân, khi có vóc dáng cao lớn, phương phi, khác hoàn toàn với thể hình thấp bé của phần đông người Vân Kiều. Và cả trong sự hiểu biết vốn còn hạn hẹp của đồng bào sống ở vùng núi đồi phía tây Quảng Trị nói chung, ông còn là một người…đi trước thời đại.

 

Bởi khi hết thảy dân bản đang mệt nhoài, than thở sau chiến tranh thì chàng thanh niên Dóc đã hì hục khai hoang mở đất; khi dân bản tập tành khai hoang theo thì ông Dóc đã nghĩ đến việc cải tạo đất đai, tìm hiểu cây, con giống phù hợp để phát triển sản xuất nông nghiệp…Cây bời lời đỏ đầu tiên được trồng lên ở Vùng Kho do chính tay Hồ Ta Dóc mang về. Và ông cũng chính là người tiên phong của bản trồng cây sắn KM 94 cung cấp cho Nhà máy chế biến tinh bột sắn Hướng Hóa. Khó có thể phủ nhận đóng góp của 2 loài cây (bời lời đỏ và sắn) mà Hồ Ta Dóc mang về và dạy cho bà con chăm sóc trong việc làm cho tỉ lệ hộ nghèo ở đây giai đoạn 2011-2016 của xã giảm từ 30% xuống còn 11%.

 

Nhưng Hồ Ta Dóc đã trải qua những ngày gian khó, lao động đến tứa cả móng tay để có những thành quả đó, đặc biệt lại được gầy dựng nên ở mảnh đất còn gặp nhiều khó khăn này. “Như bao người Vân Kiều khác, tôi đã có một tuổi thơ và thời thanh niên thực sự khó khăn”, vuốt mái tóc đã lấm tấm muối tiêu, Hồ Ta Dóc nói. Rằng ông đã có một quãng thời gian dài “chạy loạn” khỏi bom đạn chiến tranh cùng gia đình từ năm 1966-1976, rày đây mai đó ở Khe Sanh và bản Cốc, xã Hướng Linh, thuộc huyện vùng cao Hướng Hóa, thậm chí ngược về vùng Cùa, huyện Cam Lộ.

 

Hồ Ta Dóc vui vầy bên gia đình của mình.Ảnh: THANH LỘC

 

Nhưng không ở đâu bằng quê hương mình, hòa bình lập lại không lâu thì Hồ Ta Dóc trở lại Vùng Kho, khi đó ông chỉ là chàng trai hơn 20 tuổi, vừa mới lập gia đình. “Nhưng bản làng dạo đó cũng tan hoang sau chiến tranh, chẳng còn lại gì ngoài những hố bom…sâu hoắm. Cực lắm, nên cả trăm người về bản thì giỏi lắm chỉ gần một nửa trụ lại được”, Hồ Ta Dóc kể.

 

Giữa lúc gian nan thì Hồ Ta Dóc vẫn có một lựa chọn thông minh, ông dựng ngôi nhà sàn nhỏ ngay “mặt tiền” con đường 9, con đường được xây dựng từ thời Pháp vốn chỉ còn cái nền đường và bắt đầu công cuộc khai hoang.

 

Có lẽ vóc người cao lớn, khỏe mạnh, lừng lững như một con bò mộng cùng với sự quyết tâm đã giúp ông rất nhiều trong những ngày đầu khó khăn ấy. Dù chỉ qua bữa với củ sắn, củ mài nhưng không một bụi cây nào, không một tảng đá nào có thể cản bước Hồ Ta Dóc trong việc mở mang đất đai, nương rẫy. Khai hoang chừng nào ông trồng ngô, trồng bời lời, trồng sắn…đến đấy.

 

Từ ngôi nhà bằng tre nứa, Hồ Ta Dóc đã xây tổ ấm gia đình trong một ngôi nhà gỗ rộng rãi mát mẻ. Từ không tấc đất cắm dùi, “dị nhân” Vùng Kho đã sở hữu nhiều đất đai, từ quanh nhà đến tận những quả đồi xa. Thậm chí, ông đã là “triệu phú” khi được gia nhập CLB “100 triệu” của Nhà máy chế biến tinh bột sắn Hướng Hóa (CLB này dành cho những nông dân bán cho nhà máy mỗi năm hơn 100 triệu tiền sắn tươi).

 

Khi cái ăn cái mặc đã tạm ổn, vào năm 1984, Hồ Ta Dóc được bầu làm trưởng bản. Trong gần 3 nhiệm kì (13 năm) làm “người vác tù và hàng tổng”, với mức phụ cấp 120.000 đồng/tháng, người đàn ông rắn rỏi này đã nỗ lực không ngừng để mang ấm no về cho dân bản Vùng Kho.

 

Đại gia vùng cao

 

4.000 m2 là diện tích đất mặt tiền Quốc lộ 9 mà Hồ Ta Dóc “cho không” một vài hộ dân trong bản dựng nhà ở và để xây dựng các công trình phục vụ dân sinh ở Vùng Kho. Con số đó hẳn đã đủ để ông xưng danh “đại gia… bất động sản vùng cao” là thật chứ không phải…nói dóc.

 

Việc “phát chẩn” đất của ông Dóc bắt đầu từ những năm 80 của thế kỉ trước, khi nhiều người con của Vùng Kho từng tha phương, quay về quê cũ làm ăn nhưng không có nổi tấc đất dựng nhà. Khoảng ngót 2 chục năm sau, Ta Dóc vẫn tiếp tục cắt đất của mình cho những người xóm giềng, khi con cái của họ ra riêng, cần túp lều che thân. Ví như nhà Pả Pênh, Pả Thủy, chị Hồ Thị Lù, Hồ Thị Xoang, Ngô Thị Tùng...đều mang ơn Hồ Ta Dóc.

 

Nụ cười viên mãn của Hồ Ta Dóc.Ảnh: THANH LỘC

 

Có người bảo Ta Dóc là kẻ gàn dở, cũng có người vì thương mà hỏi Ta Dóc rằng “Sao ngày trước khai hoang cực nhọc mà cho đi dễ dãi thế?”, ông chỉ thủng thẳng cười: “Đất đai trữ cho lắm nhưng khi chết thì cũng chỉ nằm ở mấy mét vuông thôi, có mang theo được đâu!”.

 

Chưa thỏa, từ năm 2014 đến 2018, ông hiến tiếp đất mặt tiền Quốc lộ 9 để chính quyền địa phương lần lượt xây dựng một điểm chính và một điểm lẻ của Trường mầm non số 2 Đakrông, Nhà văn hóa cộng đồng bản Vùng Kho...

 

Đứng trước ngôi trường mầm non khang trang, vọng ra tiếng ê a của lũ trẻ, người con Vân Kiều nhân hậu nói: “Con nít vùng cao khát cái chữ như khát...sữa mẹ. Dẫu có phải đổi nhiều đất đai, của cải hơn nữa để lấy nụ cười, sự khỏe mạnh, sự hiểu biết của tụi nhỏ, tôi vẫn sẵn lòng”.

 

Già làng ở Vùng Kho, Hồ Văn Đinh nói rằng cả núi rừng này không mấy ai hào sảng và rộng rãi như Hồ Ta Dóc. Ông Đinh ví Ta Dóc như một con khỉ đầu đàn, luôn đi trước, khi tìm thấy thức ăn sẽ gọi đồng loại đến ăn cùng, khi gặp phải hiểm nguy sẽ đứng ra che chở...Giờ đây, sau khi đã tặng đất cho mọi người ở mặt tiền, gia đình Hồ Ta Dóc lùi về cất một nóc nhà ở phía sau, cách xa Quốc lộ 9 hơn. Sau khi dựng vợ gả chồng chu toàn cho 8 đứa con (3 trai, 5 gái), Hồ Ta Dóc thấy đã viên mãn và giao lại đất đai ruộng vườn cho con thứ Hồ Văn Nia coi sóc, canh tác. “Trước khi giao 10 ha rừng sản xuất và hơn 5 ha sắn, bố chỉ yêu cầu tôi đúng một điều, đó là sau mỗi vụ thu hoạch, phải trích ra một khoản để hỗ trợ người nghèo trong thôn và giúp họ vươn lên trong cuộc sống”, Hồ Văn Nia nói.

 

Đồng bào sống ở miền tây Quảng Trị vốn không bao giờ “nói 2 lời”, Hồ Ta Dóc cũng vậy. Chỉ có điều, bản thân ông có vẻ như đã tự đặt ra một lời hứa thiêng liêng dành cho mình, rằng sẽ phụng sự hết lòng cho cộng đồng, cho dân tộc mình đến hơi thở cuối!

 

Nguyễn Phúc

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ