Nỗ lực thực hiện hiệu quả chương trình giảm nghèo bền vững


Ngày cập nhật: 15/12/2018 07:12:51

(QT) - Những năm qua, công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Trị được các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm thực hiện và đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Trong 3 năm 2016-2018, tỉ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh bình quân giảm 1,88%/năm, góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Tuy đạt được những kết quả bước đầu, song công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh nói chung và đối với giảm nghèo vùng đồng bào DTTS nói riêng vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Phóng viên Báo Quảng Trị có cuộc phỏng vấn đồng chí PHAN VĂN LINH, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để biết cụ thể hơn về vấn đề này

 

- Thưa đồng chí! Năm 2016 là năm đầu tỉnh Quảng Trị thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, tỉnh đã huy động được khá nhiều nguồn lực cho công tác giảm nghèo, đề nghị ông cho biết sau 3 năm thực hiện kết quả công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh hiện nay như thế nào?

 

- Những năm qua, công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh được các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm thực hiện và đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Trong 3 năm 2016-2018, tỉ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh bình quân giảm 1,88%/năm, góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

 

Để thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2016 - 2018 tỉnh đã huy động được 1.865,46 tỉ đồng, trong đó: Vốn chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 198,14 tỉ đồng; vốn vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội 1.292,19 tỉ đồng; vốn thực hiện các chính sách giảm nghèo 326,83 tỉ đồng; Quỹ “Vì người nghèo” các cấp trong tỉnh 33,50 tỉ đồng và nguồn vốn huy động khác 14,80 tỉ đồng. Có thể nói, thời gian qua nguồn lực mà Nhà nước đầu tư cho vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, giải quyết lao động, tạo đất đai và các vấn đề an sinh xã hội phục vụ công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh là khá lớn. Nhờ vậy, đến năm 2018, toàn tỉnh giảm 7.738 hộ nghèo (tương ứng giảm 5,64%), hiện còn 16.841 hộ nghèo chiếm tỉ lệ 9,78% số hộ toàn tỉnh so với đầu năm 2016 tỉ lệ hộ nghèo là 15,43% với 24.579 hộ. Trong đó tỉ lệ hộ nghèo của huyện nghèo Đakrông giảm từ 56,55% xuống 40.06% cuối năm 2018, giảm 846 hộ (tương ứng giảm bình quân hàng năm 5,49%). Hộ nghèo đồng bào dân tộc thiếu số (DTTS) giảm 1.244 hộ, từ 11.183 hộ (đầu 2016) xuống 9.939 hộ (cuối 2018) tương ứng giảm bình quân 4,18%/năm so với hộ đồng bào DTTS. Đạt chỉ tiêu so với Kế hoạch thực hiện công tác giảm nghèo bền vững tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2016-2020 (ban hành theo Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 19/10/2016 của UBND - Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm bình quân 1,5-2,0%/năm (riêng huyện nghèo Đakrông giảm bình quân trên 4%/năm).

 

- Tuy đạt được những kết quả bước đầu song công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh nói chung và đối với giảm nghèo vùng đồng bào DTTS nói riêng vẫn đối mặt với nhiều thách thức, đồng chí có thể cho biết cụ thể hơn về vấn đề này?

 

- Mặc dù tỉ lệ hộ nghèo toàn tỉnh trong 3 năm, giảm bình quân 1,88%/năm, nhưng so sánh với tỉ lệ hộ nghèo trung bình chung của cả nước và khu vực Bắc Trung Bộ, thì tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh Quảng Trị vẫn cao hơn 1,72 lần so với tỉ lệ hộ nghèo chung của cả nước, cao hơn 1,4 lần so với tỉ lệ hộ nghèo khu vực Bắc Trung Bộ và xếp thứ 47/63 tỉnh thành của cả nước, xếp thứ 6/6 so với các tỉnh thành trong khu vực về tỉ lệ hộ nghèo.

 

Đặc biệt, hộ nghèo gia đình chính sách người có công toàn tỉnh hiện còn 624 hộ, trong đó: 2 huyện miền núi huyện Hướng Hóa, ĐaKrông chiếm đến 70% số hộ nghèo người có công trong toàn tỉnh. Mặc dù điều kiện sống của người DTTS đã được cải thiện, số hộ nghèo người DTTS giảm, nhưng tỉ trọng hộ nghèo DTTS tăng: Tỉ trọng hộ nghèo DTTS năm 2016 là 45,32% tăng lên 59,02% (cuối năm 2018). Qua khảo sát, đánh giá hiện trạng về công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh chúng tôi nhận thấy, xét về phương diện thu nhập và sự thiếu hụt khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như về thu nhập: Tỉ lệ hộ nghèo về thu nhập tăng từ 87,59% lên 96,29% trong toàn tỉnh; đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ hộ nghèo về thu nhập tăng từ 90,69% lên 96,29%. Về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: tỉ lệ hộ nghèo thiếu hụt khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản toàn tỉnh giảm từ 12,41% xuống 3,71%; vùng đồng vào dân tộc thiểu số giảm từ 9,31% xuống 2,98%. Đây chính là những thách thức đối với công tác giảm nghèo bền vững của toàn tỉnh nói chung và đối với hộ nghèo vùng đồng bào DTTS nói riêng.

 

- Trước những thách thức, tồn tại ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là đối với những địa phương có đồng bào DTTS cần có giải pháp gì, thưa đồng chí?

 

- Để thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo có hiệu quả trong thời gian tới, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục phối hợp với các sở, ban ngành, địa phương liên quan triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm cho người nghèo, trong đó ưu tiên hỗ trợ đào tạo nghề miễn phí cho lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo…thông qua các khóa đào tạo nghề ngắn hạn để họ tự tạo việc làm, hoặc tìm kiếm việc làm tại các doanh nghiệp. Phối hợp với các ngành, địa phương liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động thanh niên, đặc biệt ưu tiên thanh niên hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số, hộ chính sách người có công thuộc hộ nghèo tham gia xuất khẩu lao động hoặc làm việc trong các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

 

Với các địa phương có đồng bào DTTS cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, tăng cường sự tham gia của người dân để thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững. Đồng thời cần tổng kết, rà soát, đánh giá lại toàn bộ việc triển khai các chính sách của địa phương trong những năm trước đây. Qua đó, nội dung nào hiệu quả thấp và có những vấn đề khó khăn, trở ngại ví dụ như: Giao vốn chậm, chuyển cây trồng chậm so với thời vụ, đưa con vật nuôi về cho người dân không phù hợp với thời tiết…thì cần phải nhanh chóng sửa chữa, khắc phục để làm sao các nguồn lực của Nhà nước đầu tư cho miền núi, vùng đồng bào DTTS phải thực hiện có hiệu quả, đồng thời có cơ sở đề xuất xây dựng một số chính sách riêng cho từng địa phương để xây dựng và phát triển thương hiệu các hàng hóa nông sản mang tính chủ lực và thế mạnh có tính đặc trưng vùng miền của địa phương. Phân công các phòng, ban ngành, đoàn thể cấp huyện giúp đỡ, đỡ đầu các xã đặc biệt khó khăn, xã vùng biên giới…

 

Mức tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trong đồng bào dân tộc thiểu số tăng lên đáng kể nhờ chính sách giảm nghèo bền vững. Ảnh: L.T

 

Bên cạnh đó cần tăng cường tuyên truyền, vận động, nhân rộng các mô hình, tấm gương thoát nghèo để các hộ nghèo phấn đấu và thấy được việc thoát nghèo là đáng tự hào. Nếu thực hiện tốt vấn đề này sẽ góp phần nâng cao ý thức của người dân, tạo động lực cả về vật chất và tinh thần để họ phấn đấu đi lên. Đồng thời cần có đánh giá, rà soát phân loại nhóm hộ nghèo để có giải pháp cụ thể cho từng nhóm, ví dụ như: Đối với các gia đình già yếu, bệnh tật, thiếu lao động, không có khả năng thoát nghèo, cần vận động xã hội hỗ trợ và thực hiện chính sách xã hội để bảo đảm an sinh xã hội. Về lâu dài, xếp những đối tượng này vào diện bảo trợ xã hội thường xuyên. Đối với hộ có nhân lực, có lao động nhưng thiếu tư liệu sản xuất, thiếu việc làm, đây là nhóm có khả năng thoát nghèo cao nên cần tập trung cho vay vốn, hỗ trợ tư liệu sản xuất, tạo việc làm để thoát nghèo. Tùy vào điều kiện từng xã của huyện có thể thực hiện các mô hình “2 hộ khá giả giúp 1 hộ thoát nghèo”, hay mỗi đoàn thể giúp một số hộ thoát nghèo trong năm.

 

Đối với hộ không chịu lao động, không biết tổ chức cuộc sống, sa vào các tệ nạn, nghiện ngập, ỷ lại, trông chờ: cần tuyên truyền vận động trước khi hỗ trợ vốn, tư liệu sản xuất, giống cây trồng, vật nuôi để sản xuất kinh doanh. Đối với những hộ chưa có hoặc ít đất sản xuất… cần nghiên cứu để hỗ trợ đất sản xuất, hướng dẫn để chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thổ nhưỡng và điều kiện sản xuất. Một thực tế ở cơ sở cho thấy, năng lực của cán bộ phụ trách giảm nghèo còn yếu, sự nhiệt tình, quan tâm tới đời sống của người dân chưa cao; không nhiều cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo thông thạo tiếng dân tộc là rào cản lớn trong công tác tuyên truyền, vận động. Do vậy, cũng cần có kế hoạch cụ thể về công tác cán bộ. Một trong những giải pháp quan trọng nữa là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc để thuyết phục, hướng dẫn đồng bào thoát nghèo.

 

- Xin cảm ơn đồng chí!

 

Lâm Thanh (thực hiện)

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Nông dân thị trấn Cửa Việt phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo (23/1/2019)
Xuân về trên những miền quê nông thôn mới (23/1/2019)
Những kết quả bước đầu trong thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp (22/1/2019)
Cam Lộ chú trọng phát triển hạ tầng giao thông, thủy lợi (22/1/2019)
Người phụ nữ Quảng Trị sản xuất và phân phối sản phẩm chất tẩy rửa an toàn (22/1/2019)
Mùa đót ở Hướng Phùng (21/1/2019)
Cam Chính quyết tâm về đích nông thôn mới kiểu mẫu trong năm 2019 (21/1/2019)
Hải Lăng huy động tổng lực tiêu úng cho sản xuất vụ đông xuân (21/1/2019)
Phát triển năng lượng tái tạo, hướng đi hiệu quả (21/1/2019)



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ