Ứng dụng công nghệ sinh học trong trồng trọt và bảo vệ thực vật


Ngày cập nhật: 01/10/2018 09:24:01

(QT) - Hướng đến một nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người là mục tiêu mà ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Trị quyết tâm xây dựng thành công. Để làm được điều này, một trong những nhiệm vụ cần chú trọng triển khai là ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất.

 

Canh tác rau sạch ở phường Đông Thanh, Đông Hà

 

Từ năm 2009, thuốc diệt chuột sinh học bắt đầu được sử dụng để diệt chuột dần thay thế cho thuốc hóa học độc hại. Thuốc có hiệu quả diệt chuột cao và chỉ có tác dụng đối với chuột mà không ảnh hưởng đến con người hay các loại vật nuôi khác, không ảnh hưởng đến môi trường. Vì vậy, trước khi xuống vụ gieo trồng, hầu hết các địa phương đều sử dụng thuốc diệt chuột sinh học để trừ chuột với lượng thuốc trung bình khoảng 10 tấn/năm. Qua các năm sử dụng thuốc diệt chuột sinh học cho thấy hiệu quả là chuột giảm đáng kể mà ít ảnh hưởng đến môi trường.

 

Bên cạnh thuốc diệt chuột sinh học thì các loại thuốc trừ sâu sinh học cũng đã được người dân chú trọng sử dụng nhiều hơn, đặc biệt là trong trồng cây rau màu. Ở các vùng trồng rau màu trọng điểm như vùng rau Đông Thanh, Đông Hà, những năm qua, người dân đã sử dụng thuốc trừ sâu sinh học thay cho thuốc hóa học nên đã làm ra sản phẩm đảm bảo sạch theo tiêu chuẩn VietGap. Hơn 3 vụ sản xuất liên tiếp gần đây, chị Hồ Thị Quý cũng như nhiều hộ dân ở khu phố 3, phường Đông Thanh, Đông Hà đã thay đổi phương thức canh tác rau màu từ chủ yếu sử dụng phân bón vô cơ nay chuyển sang bón phân hữu cơ và từ bỏ hoàn toàn các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học mà chỉ sử dụng các loại chế phẩm sinh học để phun cho 4 sào rau nếu có dịch bệnh xảy ra. Thời gian cách ly thuốc sau khi phun chị Quý cũng nghiêm túc thực hiện theo hướng dẫn tại các lớp tập huấn mà chị đã tham gia và trên toa nhãn thuốc. Chị Quý cho biết: “Ở HTX Đông Thanh nay không còn ai sử dụng thuốc hóa học để phun cho rau nữa. Thời gian canh tác rau ngắn, khoảng 1 tháng nên ít khi sâu bệnh xảy ra, nếu có sâu bệnh xuất hiện thì sử dụng các chế phẩm sinh học để phun vừa an toàn cho người sử dụng, vừa an toàn cho rau. Nhờ đó, sản phẩm rau làm ra đảm bảo sạch”.

 

Để chủ động phòng chống dịch bệnh trên các loại cây trồng và đảm bảo an toàn cho người sản xuất nông nghiệp, các loại chế phẩm sinh học được nông dân quan tâm nhiều hơn. Các loại chế phẩm sinh học như EM, Trichoderma, Emic, QTMIC…được sử dụng trên các loại cây trồng như rau, quả, lúa, hồ tiêu, xử lý đất, gốc rạ, ủ phân hữu cơ. Tuy nhiên, hiện nay, lượng chế phẩm sử dụng còn chưa nhiều, mới sử dụng chủ yếu trên diện tích rau màu. Đối với cây lúa, hồ tiêu mới chỉ sử dụng chế phẩm sinh học khoảng 5-7% diện tích canh tác.

 

Từ năm 2015, trong khuôn khổ hợp tác với Chương trình Hạnh phúc do Dự án KOICA tài trợ trong việc sử dụng các chế phẩm sinh học vào canh tác tự nhiên, dựa trên chuyển giao kỹ thuật khi tham gia dự án, các loại chế phẩm sinh học do người dân tự sản xuất như: FAA (đạm cá), KAA (đạm ốc), FPJ (thân cây lên men), FFJ (trái cây lên men), OHN (chế phẩm phòng trừ sâu bệnh chiết xuất từ gừng, ớt, tỏi, thuốc lá), IMO (chế phẩm sinh vật bản địa) đã được sử dụng trên cây lúa 32 ha và 2 ha hoa màu ở Triệu Phong. Hiệu quả kinh tế cuả việc sử dụng chế phẩm sinh học vào canh tác tự nhiên cao hơn 1,6 lần so với canh tác thông thường. Chế phẩm OHN có hiệu quả trong phòng trừ các loại bệnh phổ biến như: đạo ôn, bạc lá, sâu cuốn lá, sâu đục thân… Đối với các chế phẩm sinh học trong canh tác tự nhiên giúp giảm sử dụng phân hóa học, thuốc hóa học, tận dụng nguyên liệu chế phẩm tự nhiên sẵn có, tiết kiệm chi phí sản xuất. Sản xuất theo canh tác tự nhiên có tác động tích cực trong phòng ngừa dịch hại, giảm mức độ nhiễm các loại sâu bệnh so với phương pháp sản xuất thông thường. Chi phí sản xuất theo canh tác tự nhiên là 33,6 triệu đồng/ha, thu được 61,6 triệu đồng/ha, lợi nhuận đạt 28 triệu đồng/ha.

 

Năm 2017, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác với Tập đoàn Đại Nam- Nhà máy sản xuất phân bón Obi- Ong biển với các mục tiêu cụ thể như: Quy hoạch xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh Obi- Ong biển; thu mua và bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra và xây dựng thương hiệu nông sản Quảng Trị; hướng đến xây dựng nhà máy sản xuất chế biến gạo hữu cơ Quảng Trị và nhà máy xử lý chất thải, sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh; nhà máy chế biến sâu các sản phẩm từ gạo hữu cơ Quảng Trị như: Mỹ phẩm, rượu, thực phẩm… Tính đến nay, Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Nam đã tiến hành ký kết hợp đồng với 13 HTX, tổ hợp tác thuộc 6 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh để xây dựng vùng sản xuất gạo hữu cơ. Đây là mô hình hoàn toàn không sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật, chỉ sử dụng phân bón hữu cơ nhưng vẫn cho năng suất xấp xỉ sản xuất đại trà, bình quân đạt 56 tạ/ha, toàn bộ sản phẩm được bao tiêu, đảm bảo hiệu quả trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường.

 

Nói về hiệu quả của việc canh tác theo phương pháp hữu cơ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Trị Trần Thanh Hiền cho biết: “Việc xây dựng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được đông đảo nông dân hưởng ứng tích cực. Các mô hình triển khai thực hiện đều xây dựng trên cơ sở thích ứng với biến đổi khí hậu như giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu hóa học, giảm đốt rơm rạ, giảm lượng nước tưới, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, các chế phẩm sinh học an toàn cho người sản xuất và người sử dụng sản phẩm”.

 

Việc sử dụng các chế phẩm sinh học đã góp phần không nhỏ vào việc giảm ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp, tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng tốt, nhiều mô hình đã được nhân rộng, từ đó nâng cao hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, góp phần xóa đói giảm nghèo. Đây là hướng phát triển nông nghiệp bền vững nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và dựa vào tự nhiên để phát triển.

 

Võ Thái Hòa

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ