Thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ giúp nông dân Quảng Trị được mùa vụ Hè Thu 2018


Ngày cập nhật: 08/09/2018 06:59:04

(QT) - Thời điểm này nông dân các địa phương trong tỉnh đang tập trung xuống đồng thu hoạch lúa Hè Thu năm 2018. Dù sản xuất trong điều kiện nhiều yếu tố bất lợi của tự nhiên tác động nhưng dự kiến nông dân Quảng Trị vẫn có được vụ mùa bội thu. Để hiểu hơn về vấn đề này, phóng viên Báo Quảng Trị phỏng vấn bà NGUYỄN HỒNG PHƯƠNG, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh.

 

- Thưa bà, vụ Hè Thu năm nay nông dân Quảng Trị sản xuất trong điều kiện tình hình thời tiết diễn biến thất thường, sâu bệnh hại lúa xuất hiện nhiều, vậy những yếu tố này có tác động nhiều đến kết quả vụ mùa này không?

 

- Sản xuất vụ Hè Thu 2018 diễn ra trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn về thiên tai và dịch bệnh. Với áp lực cao về thời vụ, cùng với các đợt nắng nóng xảy ra gay gắt trong tháng 6 đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy của nhiều địa phương (gieo cấy chậm hơn lịch thời vụ của tỉnh từ 10 - 15 ngày) và quá trình chăm sóc, bón phân thúc cho cây lúa chậm trễ do khô hạn. Bên cạnh đó, đợt mưa ngày 4/6/2018 đã làm cho hơn 400 ha lúa của tỉnh bị chết, phải gieo lại. Cùng với khó khăn về thiên tai đầu vụ, thì ốc bươu vàng, chuột và rầy lưng trắng xuất hiện gây hại ngay khi lúa vừa mới gieo. Có thời điểm diện tích nhiễm rầy toàn tỉnh gần 11.000 ha (chiếm gần 50% diện tích lúa toàn tỉnh). Rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh lùn sọc đen nên nguy cơ bùng phát bệnh lùn sọc đen trên diện rộng là rất lớn. Mặt khác, cơ cấu giống cây trồng ở một số địa phương không đảm bảo theo khuyến cáo, cơ cấu các giống đã thoái hóa, nhiễm sâu bệnh như: HC95, VN10... còn chiếm tỷ lệ cao nên tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh sớm, nhiều lứa, khó phòng trừ.

 

- Mặc dù sản xuất trong điều kiện nhiều yếu tố tự nhiên bất lợi tác động nhưng dự kiện vụ Hè Thu này Quảng Trị có được vụ mùa bội thu, vậy theo bà đâu là nguyên nhân?

 

- Vụ Hè Thu 2018, sản xuất lúa trên địa bàn dự kiến tiếp tục được mùa, năng suất dự kiến đạt 51,95 tạ/ha. Đó là nhờ sự triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và sự nỗ lực lao động sáng tạo của người nông dân, có thể nhấn mạnh một số nguyên nhân chính như sau:

 

Thứ nhất, sự vào cuộc quyết tâm của hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương để tổ chức sản xuất, ứng phó với diễn biến bất thường của thời tiết và dịch bệnh. Mà trước tiên đó là sự quan tâm của cấp ủy, lãnh đạo chính quyền các cấp trong việc thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được thể hiện thông qua nhiều chương trình, đề án, chính sách, kế hoạch để triển khai thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu. Việc gắn nhiệm vụ chính trị trong việc tổ chức chỉ đạo sản xuất với nhiệm vụ xây dựng Đảng đã được nhiều cấp ủy chi bộ quan tâm. Nhờ đó có được sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, các đoàn thể trong việc phòng trừ, ứng phó với thiên tai và dịch bệnh.

 

Thứ hai, công tác dự báo sớm tình hình diễn biến thiên tai dịch bệnh nhằm đưa ra biện pháp chỉ đạo kịp thời sát đúng. Bằng việc dự báo diễn biến dịch bệnh, nhất là bệnh lùn sọc đen sẽ bùng phát và gây hại nặng trong vụ Hè Thu 2018, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh ngay từ khi sản xuất vụ Đông Xuân 2017 - 2018 đã triển khai đồng loạt các biện pháp như: Sử dụng bẫy đèn năng lượng mặt trời để theo dõi rầy di trú; thu thập mẫu rầy và mẫu lúa với tổng số hơn 1.200 mẫu để test nhanh virus lùn sọc đen; hướng dẫn người dân ứng dụng các biện pháp phòng bệnh bằng xử lý hạt giống với thuốc trừ rầy; sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý gốc rạ sau thu hoạch; hướng dẫn cơ cấu giống và lịch thời vụ phù hợp với diễn biến của thiên tai và dịch bệnh. Trong đó, đặc biệt là tập trung vào công tác truyền thông, tuyên truyền về bệnh lùn sọc đen đến chính quyền và nông dân các địa phương. Do đó, đã kịp thời phát hiện mẫu rầy và mẫu lúa dương tính với bệnh lùn sọc đen vào ngày 20/6/2018. Triển khai đồng bộ quyết liệt các giải pháp để bao vây, khống chế, hạn chế thấp nhất thiệt hại do bệnh lùn sọc đen gây ra. Tính đến nay, chỉ có 67 ha lúa nhiễm bệnh lùn sọc đen, giảm 1.700 ha so với cùng kỳ năm trước.

 

Thu hoạch lúa Hè Thu. Ảnh: L.T

 

Thứ ba, việc ứng dụng đồng bộ khoa học công nghệ vào sản xuất trên diện rộng cũng đã giúp thay đổi nhận thức và cách làm của người nông dân theo hướng chủ động, sáng tạo, quan tâm đến giá trị và chất lượng sản phẩm. Bằng việc chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ trên diện rộng thông qua các mô hình cánh đồng lớn có quy mô từ 20 đến 50 ha, thông qua việc liên kết với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất theo chuỗi giúp người dân thấy được tầm quan trọng và vai trò của liên kết, cơ giới hóa vào sản xuất. Vụ Hè Thu 2018, với gần 4.000 ha sản xuất theo cánh đồng lớn, trong đó gần 500 ha sản xuất theo quy trình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, gần 200 ha sản xuất theo chuỗi giá trị liên kết với doanh nghiệp đã mang lại giá trị tăng từ 20 - 30% so với sản xuất truyền thống. Bên cạnh các yếu tố trên, thì việc kịp thời nắm bắt diễn biến sản xuất, cử cán bộ thường xuyên bám ruộng, lội đồng, kịp thời nhắc nhở, kiểm tra việc thực hiện hướng dẫn của cơ quan chuyên môn... là những nguyên nhân quan trọng nhằm giúp cho sự chỉ đạo, lãnh đạo được đồng bộ, sát đúng với thực tiễn sản xuất.

 

- Được biết, thời gian qua Sở Nông nghiệp & PTNT và các địa phương với Công ty TNHH sản xuất Thương mại Đại Nam hợp tác, liên kết sản xuất lúa chất lượng cao, an toàn theo hướng hữu cơ, bà có thể cho biết vụ mùa năm nay mô hình này phát triển như thế nào?

 

- Mô hình liên kết sản xuất lúa chất lượng cao, an toàn theo hướng hữu cơ giữa Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Trị và Công ty TNHH sản xuất Thương mại Đại Nam - Nhà máy sản xuất phân bón Obi - Ong biển đã thực hiện qua 3 vụ sản xuất, với tổng diện tích gần 400 ha. Đây có thể xem là mô hình liên kết 5 nhà đầu tiên của tỉnh Quảng Trị với sự tham gia của Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông, nhà phân phối. Vụ Hè Thu 2018 là vụ thứ 3 thực hiện mô hình với diện tích 142,2 ha tại 8 hợp tác xã, tổ hợp tác của các huyện Hải Lăng, Triệu Phong. Mặc dù đầu vụ cũng gặp nhiều khó khăn do thiên tai dịch bệnh, có gần 30 ha mô hình phải gieo lại lần 2. Đồng thời, dịch rầy lưng trắng cũng xuất hiện gây hại với mật độ rất cao, có nơi lên đến 10.000 con/m2. Công ty cam kết bảo hiểm cho nông dân trong trường hợp dịch bệnh xảy ra với mức 4,5 tấn lúa tươi/ha. Do đó, người dân yên tâm tuân thủ tuyệt đối quy trình sản xuất không sử dụng bất cứ loại phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật nào. Hiện nay, các mô hình đang bước vào thu hoạch. Qua theo dõi, đánh giá từ các địa phương cho thấy, năng suất bình quân của ruộng mô hình đạt từ 4,7 - 6,0 tấn lúa tươi/ha. Trong đó, cao nhất tại HTX Phước Thị, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh có hộ đạt hơn 70 tạ/ha. Với giá thu mua của công ty là 8.000 đồng/lúa tươi, sau khi trừ chi phí hiệu quả thu được 38.880.000 đồng/ha. Bình quân mỗi ha canh tác lúa hữu cơ có lãi hơn so với sản xuất đại trà từ 8- 18 triệu đồng/ha.

 

Như vậy qua 3 vụ sản xuất cho thấy mô hình đã có sự thành công và nhận được sự quan tâm đồng hành, tin tưởng của người nông dân và chính quyền địa phương. Mô hình không chỉ có hiệu quả về kinh tế mà cả về môi trường sinh thái và xã hội cũng được bảo vệ, phát triển.

 

- Vậy qua mô hình liên kết 5 nhà, người nông dân các vùng tham gia mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, an toàn theo hướng hữu cơ đã có những thay đổi gì, thưa bà?

 

- Qua 3 vụ tham gia sản xuất mô hình, có thể thấy những thay đổi lớn đối với người nông dân đó là: Người nông dân biết sản xuất theo hợp đồng, theo đặt hàng của nhà doanh nghiệp, tuân thủ theo cam kết, biết liên kết để cùng sản xuất theo một quy trình được hướng dẫn. Thay vì kiểu sản xuất mạnh ai nấy làm. Tham gia vào mô hình người nông dân cùng liên kết sản xuất trên cánh đồng lớn, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất từ đó tạo ra được sản phẩm đồng đều về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Thứ hai, người nông dân thấy được vai trò, tầm quan trọng của việc sản xuất mà không cần phải quá phụ thuộc vào phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Với tập quán sản xuất lâu đời phụ thuộc chủ yếu vào phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật có thể mang lại những bất lợi cho sức khỏe con người và môi trường sinh thái. Việc quay lại với sản xuất truyền thống chỉ sử dụng phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh mà vẫn mang lại giá trị và hiệu quả trong sản xuất, giúp thay đổi nhận thức của người sản xuất về phương thức canh tác và dinh dưỡng cho cây trồng. Bên cạnh đó, việc liên kết sản xuất với doanh nghiệp cũng đã giúp người dân hiểu giá trị của việc sản xuất ra sản phẩm sạch, an toàn và vai trò của họ trong việc duy trì, bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng. Bằng phương thức canh tác mới, người nông dân phải bỏ ra nhiều công lao động hơn để chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh như: Làm cỏ bằng tay, bắt ốc bằng tay, bắt chuột bằng thủ công, bón phân hữu cơ... giúp nông dân hiểu được giá trị của sản xuất sản phẩm sạch. Đồng thời, người dân thấy được kết quả của quá trình đó khi tận mắt chứng kiến hệ sinh thái đồng ruộng được phục hồi, các đối tượng thiên địch quay trở lại, cá tôm, chim, động vật thủy sinh xuất hiện trở lại trên đồng ruộng. Đây chính là những bằng chứng sinh động để người dân thấy được vai trò của mình trong việc duy trì và bảo vệ cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng.

 

- Xin cảm ơn bà!

 

Lâm Thanh (thực hiện)

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (1)
"...Công ty TNHH sản xuất Thương mại Đại Nam - Nhà máy sản xuất phân bón Obi - Ong biển đã thực hiện qua 3 vụ sản xuất, với tổng diện tích gần 400 ha.". Hiện nay, mọi mô hình thì vẫn dừng lại ở mô hình, rất khó nhân rộng. Riêng gạo của công ty Ong biển bà con nông dân đều cho rằng giá bán quá cao, để tròng loại này phải tập trung vào những nơi đất tốt, có nguồn nước tưới thật đầy đủ. Mặt khác, giai đoạn này công ty có tài trợ "phân bón" nhưng còn sau này vấn đề nguồn phân, giá ..?
Hoàng Bá Phuong - 11/09/2018 8:47:08 SA

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ