Chuyện về người anh hùng trong chiến dịch Khe Sanh


Ngày cập nhật: 05/07/2018 09:44:25

(QT) - “Đánh giặc xong là về nhà thôi. Tôi không nghĩ mình sẽ là anh hùng”. Ông đã nói chân thành như vậy khi nhìn lại cuộc đời gần 30 năm binh nghiệp của mình. Ông đã tham gia 175 trận đánh, bắn rơi 13 máy bay, diệt 2 xe tăng và 54 tên địch, trong đó có chiến công tại sân bay Tà Cơn, góp công vào chiến thắng Khe Sanh lịch sử.

 

Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông Nhương được tặng thưởng rất nhiều huân, huy chương. Ảnh: VC

 

Đó là ông Nguyễn Văn Nhương, quê ở xã Cầu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1965, mới 17 tuổi, Nguyễn Văn Nhương đã nộp đơn xin nhập ngũ với nội dung rất rõ ràng: “Xin được cầm súng vào Nam giết giặc”.

 

Những ngày đầu tháng 4 năm 2018, trong ngôi nhà nhỏ tại đường Lý Thái Tổ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, ông Nhương nhớ lại: “Cả 2 lần khám tuyển, tôi đều bị loại vì quá thấp bé, không đủ cân. Nhưng với sự quyết tâm, cuối cùng tôi cũng thuyết phục được Hội đồng khám tuyển. Sau 3 tháng huấn luyện, đầu năm 1966, tôi được biên chế về đại đội súng máy 12,7 ly của Đoàn Hoa Lư, tỉnh Thanh Hóa lúc bấy giờ. Nhiệm vụ chính của đơn vị là bảo vệ các cây cầu ở Thanh Hóa quê tôi, trong đó có cầu Hàm Rồng huyền thoại. Cho đến đầu năm 1967, tôi cùng đơn vị hòa vào đoàn quân Nam tiến để bắt đầu chinh phục những trận đánh mới cùng với cuộc chiến hào hùng của cả dân tộc.

 

40 ngày đêm trên sân bay Tà Cơn đỏ lửa

 

Khi trò chuyện với chúng tôi, bao nhiêu ký ức của những trận đánh lại dội về trong ông như không bao giờ vơi cạn. Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông tham gia 175 trận đánh nhưng đậm sâu nhất có lẽ là trận địa sân bay Tà Cơn trong chiến thắng Khe Sanh lịch sử vào tháng 3 năm 1968.

 

Sân bay Tà Cơn là một trong những căn cứ điểm quân sự chiến lược của quân đội Mỹ trong những năm 1966 -1968 tại chiến trường Khe Sanh, đây được xem là cái lõi của tập đoàn cứ điểm của quân đội Mỹ tại Khe Sanh. Nằm trên Đường 9, sân bay Tà Cơn thuộc xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa, chỉ cách thị trấn Khe Sanh chừng gần 5 km. Toàn sân bay Tà Cơn giống như một lòng chảo với bốn bề là núi non trùng điệp. Đây như là một pháo đài bất khả chiến bại với những điểm đặt hệ thống hỏa lực lý tưởng, cách con đường 9 huyết mạch chưa đầy 3 km. Nhưng trước sức mạnh của cuộc tiến công giải phóng Khe Sanh của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ tháng 2 đến tháng 7/1968, nơi đây đã trở thành chiếc ghế điện đối với liên quân của đối phương.

 

Anh hùng Nguyễn Văn Nhương nhớ lại, trong chiến dịch đánh chiếm sân bay Tà Cơn năm ấy, lúc đầu đơn vị bố trí khẩu đội pháo 12,7 ly cách sân bay trên 1000 m. Qua thực tiễn những trận đánh trước đó, ông cho rằng nếu đặt xa như vậy sẽ không hiệu quả và chỉ bắn được những máy bay ở trên cao nên mạnh dạn đề xuất với chỉ huy đưa pháo vào cách sân bay 100 m. Thấy nguy hiểm nên đơn vị không đồng ý với đề xuất của ông nhưng sau rất nhiều lần thuyết phục với sự quyết tâm cao độ, đề xuất của ông được chỉ huy chấp thuận. Theo ông, nếu đặt pháo ở sát đường băng thì khi máy bay lên cũng bắn được mà khi máy bay xuống cũng bắn được. Hiệu quả quá bất ngờ khi ngay ở trận đầu này, đơn vị của ông đã bắn rơi 17 chiếc máy bay trực thăng hiệu HU1A của địch, một chiến công vang dội trên bầu trời Khe Sanh-Quảng Trị khi ấy.

 

Trong 17 chiếc máy bay của địch bị bắn rơi ở trận này thì riêng Nguyễn Văn Nhương bắn rơi 7 chiếc, trong đó có 1 ngày ông bắn rơi 3 chiếc. Sau trận đánh này, toàn đơn vị đã phát động phong trào sâu rộng học tập, noi gương sự mưu trí, dũng cảm của chiến sĩ Nguyễn Văn Nhương và đặt cho ông cái tên: “Người chiến sĩ kiên trung”. Tuy nhiên, đơn vị thiệt hại khá lớn về người và vũ khí. Anh em đơn vị bị thương nhiều nhưng ông vẫn ngày đêm quyết không rời trận địa. Ông tâm sự: “Khi ấy giữa sự sống và cái chết rất mong manh nhưng mình thầm nhủ là phải giữ trọn lời thề trước Đảng kỳ khi ra trận: “Còn người, còn vũ khí là còn trận địa”. Nếu rút thì địch sẽ giết hết”. Chính vì có Nguyễn Văn Nhương quả cảm, gan dạ nên đại đội của ông luôn đứng vững và chiến thắng trước mưa bom, bão đạn của quân thù.

 

Ông kể: Ngày 22/2/1968, Đại đội súng máy 12,7 ly cùng một số phân đội DKZ và bộ binh áp sát sở chỉ huy của Lữ đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ, bao vây với mục tiêu phá hủy hoàn toàn sân bay Tà Cơn, cắt đứt đường tiếp tế hàng không của địch. Riêng khẩu đội do ông là xạ thủ số 1 nằm sát sân bay Tà Cơn, chỉ cách vài chục mét, có nhiệm vụ bắn trực tiếp không cho địch tiếp tế quân lương. Bọn địch coi khẩu đội này là cái gai trong mắt chúng, cần phải nhổ bỏ, vì thế chúng điên cuồng dùng B52, B57 trút xuống rồi hàng chục xe tăng, xe bọc thép liên tục phản kích vào các trận địa của ta. Không hề nao núng, ông cùng đồng đội sử dụng các hỏa lực DKZ, cối 81, 82 đánh tan các cuộc phản kích của chúng. Phát hiện ra trận địa của ta, bọn địch đã tập trung hỏa lực, huy động máy bay thả bom. Một quả bom rơi sát trận địa làm cho một số đồng chí trong khẩu đội của ông bị thương. Bản thân ông cũng bị thương nặng nhưng vẫn cố bám trận địa. Lúc này, cơ số đạn còn rất ít, trong lúc đó máy bay địch lại liên tục quần thảo, rải bom, bắn phá. Ông đã nảy ra sáng kiến tháo rời băng đạn để không bắn liên thanh, mà bắn tỉa từng phát một, tiết kiệm đạn. Với số đạn ít ỏi, một mình ông đã bắn rơi 3 chiếc máy bay của địch rồi tự xé áo băng vết thương cho mình và đồng đội để tiếp tục chiến đấu.

 

Một góc thị trấn Lao Bảo. Ảnh: THÀNH DŨNG

 

Chiến thắng Tà Cơn đã góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta ở mặt trận Đường 9 Khe Sanh, gắn chặt với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, góp phần quan trọng buộc Mỹ phải xuống thang trút gánh nặng xuống chính quyền ngụy quân Sài Gòn, ngừng ném bom miền Bắc và ngồi vào vòng đàm phán Paris, khởi đầu một quá trình thất bại về chiến lược của Mỹ đối với chiến tranh tại Việt Nam.

 

Viết tiếp những chiến công

 

Rời chiến trường Khe Sanh-Quảng Trị, ông tiếp tục trong cuộc hành quân của cả dân tộc vào Nam chiến đấu cùng đơn vị. Nguyễn Văn Nhương luôn thể hiện là người chiến sĩ đi tiên phong, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy nhưng luôn trong tâm thế của một người lính chiến đấu. Đầu tháng 8/1968, ông cùng đơn vị tham gia trận đánh Sở chỉ huy Chi khu Đăk Lập - Đăk Min, tỉnh Đăk Lăk. Sở chỉ huy của địch được bảo vệ bởi chằng chịt đồn bốt, hàng rào dây thép gai kiên cố…và đơn vị của ông có nhiệm vụ bắn vào trận địa hỏa lực, hỗ trợ cho bộ binh đánh địch phản kích, đồng thời bắn máy bay địch đổ quân chi viện cho chi khu. Khi đang chỉ huy chiến đấu, hầm sập, ông bị thương phải đưa về tuyến sau cấp cứu nhưng đi được nửa đường, tỉnh lại ông ra lệnh cho đồng đội quay trở lại tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu. Kết thúc trận đánh, đơn vị của ông bắn rơi 5 máy bay, riêng ông bắn rơi 3 chiếc. Cuối năm 1968, ông chỉ huy đơn vị trực tiếp cho bộ binh tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn Không vận Mỹ ở Sóc Trăng, diệt 70 xe cơ giới của Mỹ, sau đó tiến công tiêu diệt các tiểu đoàn quân Mỹ ở mặt trận Lộc Ninh (Bình Phước).

 

Năm 1970, đơn vị của ông được giao nhiệm vụ tham gia chiến dịch ở Đông Bắc (Campuchia), trong đó có trận đánh ở Đầm Be. Địch dùng xe tăng, máy bay, bộ binh và các loại hỏa lực hòng san bằng trận địa của ta, song ông đã linh hoạt sử dụng súng 12,7 ly cùng súng bộ binh, B40, lựu đạn để chiến đấu chống trả các đợt phản công của địch. Đặc biệt, khi xe tăng địch tiến gần, ông đã dũng cảm ôm mìn chống tăng bò ra khỏi hầm lăn mìn vào xích xe tăng, làm cháy chiếc xe tăng chạy trước, sau đó ông quay trở lại hầm bình tĩnh sử dụng quả súng cối 40 ly cuối cùng bắn cháy tiếp chiếc xe tăng thứ 2, rồi sử dụng súng bộ binh, lựu đạn tiêu diệt bộ binh địch. Kết thúc chiến dịch phản công này, ông bắn rơi 2 máy bay, diệt 2 xe tăng và nhiều tên địch. Cuối năm 1972, ông được cử ra Bắc đào tạo cán bộ Chính trị ở Học viện trung-cao cấp. Năm 1973, ông được điều động làm Chính trị viên Tiểu đoàn 22 (Quân khu 4). Sau đó, vẫn trên cương vị Chính trị viên Tiểu đoàn 22, ông được tăng cường vào Tây Nguyên cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.

 

Ông Nguyễn Văn Nhương được tặng thưởng 11 Huân chương Chiến công giải phóng, 2 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 5 Huy hiệu Chiến sĩ diệt máy bay; Huy hiệu Chiến sĩ diệt xe tăng; Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ - ngụy; Huy hiệu Chiến sĩ thi đua quyết thắng; 5 năm liền là Chiến sĩ thi đua cấp Trung đoàn và Sư đoàn; 2 lần được đi dự Đại hội chiến sĩ thi đua anh hùng toàn miền Nam tại Hà Nội trong những ngày chiến tranh chống Mỹ gian khổ nhất. Ngày 28/5/2010, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Hiện nay, những đồng đội của ông trong trận đánh Khe Sanh năm xưa vẫn còn sống như Trung tướng Nguyễn Đức Xê, nguyên Giám đốc Học viện Lục quân; Trung tướng Dương Thái, nguyên Chính ủy Quân khu 7 cùng với ông đã thành lập Ban liên lạc Mặt trận Đường 9-Khe Sanh Quân khu Trị Thiên khu vực tỉnh Gia Lai với trên 300 hội viên vẫn gặp nhau hằng năm và vào những dịp kỷ niệm thành lập trung đoàn, sư đoàn đầy ý nghĩa. Họ vẫn âm thầm, lặng lẽ giúp đỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày trên đất Tây Nguyên. Còn Đại tá Vũ Quang Chiêm, nguyên Chính ủy Trung đoàn, người trực tiếp chỉ huy chiến dịch Khe Sanh hiện đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh qua điện thoại đã rất xúc động khi nói về cán bộ thuộc cấp của mình: “Chú Nhương là một chiến sĩ dũng cảm, đánh giặc mưu trí, dám một mình kéo pháo sát vào sân bay Tà Cơn để bắn, không ai ngăn được… anh em mất tin nhau từ năm 1973, mãi đến năm 2010, nghe tin chú ấy được phong anh hùng, tôi mừng mà không cầm được nước mắt…”.

 

Hơn 40 năm qua, cựu chiến binh Nguyễn Văn Nhương lặng lẽ, âm thầm sống và làm việc ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai với một cuộc sống bình dị, yên ấm và hạnh phúc. Ông đã kinh qua nhiều công việc ở địa phương nhưng bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong ông vẫn luôn tròn đầy, ấm nóng. Hiện ông nghỉ hưu và sống cùng người bạn đời là cô giáo về hưu Ngô Thị Mai ở tổ 8, đường Lý Thái Tổ, phường Diên Hồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

 

Chia tay anh hùng Nguyễn Văn Nhương trên phố núi Pleiku thân yêu, ông khẽ hát cho chúng tôi nghe bài hát “Tiếng hát trên đường quê hương” của nhạc sĩ Huy Thục viết về chiến thắng Khe Sanh - Đường 9 năm xưa: “… Trên đường 9 giờ em đi giặc sợ giặc lo. Trên đường đó, đường em đi chiến công từng ngày. Gùi trên vai đi chiến trường, qua Cam Lộ em về Cù Đinh, nơi miền quê chiến thắng còn nghe tiếng ca rộn ràng”… mà càng thấy yêu thêm đất trời Quảng Trị quê hương.

 

Nguyễn Văn Chiến

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Ngày hội thắt chặt thêm tình nghĩa xóm làng (16/11/2018)
Nhà Thiếu nhi Quảng Trị, 25 năm xây dựng và trưởng thành (16/11/2018)
Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết trong xây dựng quê hương (16/11/2018)
Nét nổi bật trong phong trào Thi đua Quyết thắng của Bộ đội Biên phòng tỉnh (15/11/2018)
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ở Triệu Phong (15/11/2018)
Xây dựng phẩm chất, đạo đức cho cán bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu để phòng ngừa tham nhũng (14/11/2018)
Những nét mới trong các tác phẩm báo chí dự thi Giải Báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng tỉnh Quảng Trị năm 2018 (14/11/2018)
Tin tưởng và kỳ vọng vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (13/11/2018)
Xử lý trí thức - đảng viên sai phạm không phải là kỳ thị cả đội ngũ (12/11/2018)
Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ